Câu hỏi:

08/04/2026 247 Lưu

Đồng vị phóng xạ Technetium-99 (\(_{43}^{99}{\rm{Tc}}\)) được sử dụng rộng rãi trong y tế để chẩn đoán hình ảnh. Vào lúc 8h sáng, người bệnh được truyền một liều thuốc có chứa \({N_0} = 5,{0.10^9}\) hạt nhân Tc vào trong cơ thể.

Đồng vị phóng xạ Technetium-99 43^99Tc được sử dụng rộng rãi trong y tế để chẩn đoán hình ảnh. Vào lúc 8h sáng, người bệnh được truyền một liều thuốc có chứa N0 = 5,0.10^9 (ảnh 1)

(a) Hình bên biểu diễn tỉ số giữa số hạt nhân Tc chưa bị phân rã phóng xạ N so với số hạt nhân ban đầu \({N_0}\) theo thời gian t. Tính N vào lúc 14h cùng ngày.

(b) Trong thực tế, đồng vị Tc vừa bị phân rã phóng xạ vừa bị đào thải sinh học khỏi cơ thể. Cho biết số hạt nhân Tc do đào thải sinh học giảm dần theo thời gian cùng dạng hàm số mũ với số hạt nhân do phân rã phóng xạ. Thời gian để số hạt nhân Tc-99 giảm đi một nửa do đào thải sinh học là 3 giờ. Xét đồng thời cả hai quá trình phân rã phóng xạ và đào thải sinh học, tính số hạt nhân \(_{43}^{99}{\rm{Tc}}\) còn lại trong cơ thể vào lúc 14h cùng ngày.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Ý a)

Từ đồ thị ta thấy \(N/{N_0} = 0,5\) sau 6 giờ. Do đó chu kỳ bán rã phóng xạ \({T_{1/2}} = 6\) giờ.

Từ 8h đến 14h cùng ngày cùng là 6 giờ

Từ 8h đến 14h là 6 giờ tỉ số \(N/{N_0} = 1/2\). Do đó chu kỳ bán rã phóng xạ \({T_{1/2}} = 6{\rm{ h}}\).

Ban đầu có \({N_0} = 5,0 \cdot {10^9}\), sau 6 giờ, số hạt còn lại \(N = \frac{{5,0 \cdot {{10}^9}}}{2} = 2,5 \cdot {10^9}\) hạt.

Ý b)

Thời gian để số hạt giảm đi một nửa do phóng xạ là: \({T_1} = 6\) giờ.

Thời gian để số hạt giảm đi một nửa do đào thải sinh học là: \({T_2} = 3\) giờ.

Thời gian để số hạt giảm đi một nửa do cả 2 quá trình là T, với \(\frac{1}{T} = \frac{1}{{{T_1}}} + \frac{1}{{{T_2}}}\).

Kết quả \(T = 2\) giờ.

Sau \(t = 6\) giờ, số hạt còn lại trong cơ thể:

\(N = {N_0}{2^{ - \frac{t}{T}}} = 6,25 \times {10^8}\) hạt

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Câu 2

Phần IV (3 điểm). Thí sinh trình bày đầy đủ lời giải câu 5, câu 6.

Vào thế kỷ XIX, Lord Kelvin đã đưa ra phương pháp “ống đo độ sâu” để đo độ sâu dưới mặt nước biển. Với phương pháp này, người ta sử dụng một ống chứa không khí có một đầu bịt kín, một đầu để hở. Thành trong của ống được phủ một lớp bột. Trong quá trình ống được đưa xuống nước tới độ sâu h (tính từ mặt nước), lượng không khí trong ống luôn không đổi. Khi ống được đưa trở lại trên mặt nước, bằng cách đo chiều dài đoạn ống đã bị rửa trôi bột, người ta có thể xác định được độ sâu h. Coi không khí trong ống là khí lí tưởng và nhiệt độ của nó không đổi. Cho biết khi ống được đưa xuống dưới nước, áp suất không khí p trong ống tăng lên theo công thức \(p = {p_0} + \rho gh\), với \({p_0}\) là áp suất khí quyển trên mặt nước, \(\rho \) là khối lượng riêng của nước, g là gia tốc trọng trường.

(a) Giải thích tại sao bột trong ống không bị nước rửa trôi hết mà chỉ bị rửa trôi một phần.

(b) Một nhà khoa học sử dụng phương pháp “ống đo độ sâu” để nghiên cứu tập tính lặn của một loài chim biển. Nhà khoa học gắn các ống có chiều dài 6,5 cm vào các con chim. Khi chúng trở lại mặt nước, nhà khoa học thu hồi các ống và đo chiều dài đoạn ống đã bị rửa trôi bột. Kết quả cho thấy nước đã rửa trôi bột một đoạn dài lớn nhất 1,5 cm tính từ đầu hở của ống. Cho \({p_0} = 1,{013.10^5}\;{\rm{Pa}}\), \(\rho = 1030\;kg/{m^3}\), \(g = 9,80\;m/{s^2}.\) Tính độ sâu lớn nhất mà loài chim này lặn xuống.

Lời giải

Ý a)

Khi ống trên mặt biển, áp suất không khí bên trong ống bằng áp suất khí quyển. Khi chim lặn xuống sâu, áp suất nước bên ngoài tăng (càng xuống sâu, \(\rho gh\) càng lớn). Ở đầu hở, nước có thể tràn vào ống, rửa đi phần bột bám ở đoạn đó.

Khi nước tràn vào ống, lượng không khí xác định bị nén lại, thể tích không khí bên trong ống bị giảm dần, dẫn đến áp suất không khí trong ống tăng dần (vì nhiệt độ không đổi). Cho đến khi, áp suất không khí trong ống cân bằng với áp suất nước ở bên ngoài miệng ống thì nước không thể tràn thêm vào ống.

Ý b)

Gọi S là diện tích thiết diện thẳng của ống, \({p_1}\) là áp suất khí trong ống tại độ sâu h, do nhiệt độ không đổi nên áp dụng định luật Boyle ta có:

\({p_1}S{l_1} = {p_0}S{l_0} \Rightarrow {p_1} = {p_0}\frac{{{l_0}}}{{{l_1}}} = 1,{013.10^5} \times \frac{{6,5}}{{6,5 - 1,5}} \approx 1,{317.10^5}\;{\rm{Pa}}\)

Câu 3

a. Khi gảy đàn, đoạn dây đàn bị nhiễm từ dao động tạo ra sự biến thiên từ thông qua cuộn dây.

Đúng
Sai

b. Dòng điện cảm ứng trong cuộn dây làm dây đàn dao động, phát ra âm thanh.

Đúng
Sai

c. Suất điện động cảm ứng trong cuộn dây có tần số không phụ thuộc vào tần số dao động của dây đàn.

Đúng
Sai

d. Khi dây đàn được gảy mạnh, tốc độ biến đổi từ thông qua cuộn dây lớn, dẫn tới giá trị cực đại của suất điện động cảm ứng lớn.

Đúng
Sai

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP