Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
8 người thi tuần này 4.6 8 lượt thi 20 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Đề cương ôn tập giữa kì 2 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức có đáp án
Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề cương ôn tập giữa kì 1 Ngữ văn 12 Cánh diều có đáp án
Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức có đáp án
Đề cương ôn tập cuối kì 2 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 12 Kết nối tri thức có đáp án
Đề cương ôn tập cuối kì 1 Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo có đáp án
Danh sách câu hỏi:
Đoạn văn 1
HOÀNG HÔN MÀU CỎ
(Hoàng Trần Cương)
Khói lửa tạm lắng rồi
Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ
Con trở về miền ao ước
Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường
Ngực để trần
Áo trận lỏng tay
Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
Không còn sợ thần sắc long đong
Không còn lo chùm bom thù đi lạc
Mẹ bảo
Còn hai bàn tay là còn của nả
Còn nhớ về những nấm mộ rừng xa
Thế kỉ này vẫn lắm quỷ nhiều ma
Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại
Những chiều tà
Dân làng không túm tụm nhau ngoài bãi
Hoảng hốt nhìn những lằn chớp đen chèn ngang lễ cưới
Hoảng hốt nhìn những sân trường sạch bóng trẻ con
Hoảng hốt nhìn vào lòng mình thấy ruột gan nóng rần như lửa đốt
Bói đâu ra bóng dáng của ngày thường
Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng
Tiếng mõ trâu chùng cả dáng chiều
Mẹ ơi!
Con nào dám cầu xin chi nhiều
Sau chuỗi ngày chinh chiến
Sau chuỗi ngày rụng rơi như bồ hóng
Những năm tháng hoả lò không sót lại muội than
Cho con xin vỏn vẹn một ngày
Trải lá chuối lên xó vườn rậm cỏ
Nằm dang tay dang chân
Để nghe gió thì thào to nhỏ
Để dõi theo mây núi trắng ngần
Để nỗi nhớ lần về tận ngõ
Theo chuyến đò ngang
[...]
Mẹ ơi
Xin cho con thêm một lần thả mình trên cỏ
Thiếp đi dưới bóng của làng
Giữa mơ màng thức ngủ
Nghe thì thầm trong đất
Nẻo đường dẫn đến mùa thu
Nẻo đường ngược về lịch sử
Nẻo đường dài ngắn xưa sau
Trời trong vắt
Mắt người xa xứ
Nỗi nhớ thì gần
Cái nhớ thì xa
(Hoàng Trần Cương, Trầm tích, NXB Hội Nhà văn, 1996)
Lời giải
- Cảm xúc, rung động trong bài thơ là tiếng “dội” mãnh liệt của sự kiện khi nhà thơ được trở về sau chiến tranh: Khói lửa tạm lắng rồi/ Gói chiếc ba lô phồng căng thời trai trẻ/ Con trở về miền ao ước
- Dòng/ Hình ảnh thơ mà em cho là đặc sắc: Học sinh tự xác định theo đánh giá của cá nhân
Gợi ý: Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường; Bói đâu ra tiếng gà trưa đảo trứng; Tiếng mõ trâu chùng cả ráng chiều,…
Lời giải
* Khổ thơ đầu gợi hình dung:
- Chiến tranh tạm yên; Người lính (không còn trẻ) trở về từ chiến trường với chiếc ba lô căng phồng; Ngực để trần…với chiếc áo lính cầm tay tâm trạng thoải mái
- “Khói lửa”, “Áo trận” là biểu tượng cho chiến tranh, loạn lạc gợi ra cảnh ngộ con người vừa trải qua
* Cảm xúc, tâm trạng của người trở về:
- Vui mừng, hồ hởi:
+ Tâm trạng thoái mái hồ hởi (không phải căng mình đối mặt với trận chiến – “Áo trận lỏng tay”) ngày trở về quê hương gợi ra từ 2 dòng thơ đầu, từ hình ảnh chiếc ba lô căng phồng
+ Niềm hạnh phúc vô bờ của người lính được trở về quê hương được bộc lộ trực tiếp ở dòng thơ “Con trở về miền ao ước” → Miền ao ước là quê hương, là khát vọng, là ao ước cháy bỏng trong tâm hồn người lính
+ “Rải tiếng cười lăn xuống gậm giường” là sáng tạo độc đáo bởi nghệ thuật ẩn dụ diễn tả niềm vui của người lính được trở về quê hương, về ngôi nhà thân yêu của mình, niềm vui ấy bao trùm cả không gian, lan vào “xó xỉnh”, vào từng góc của ngôi nhà
- Thoáng buồn nhớ tới cảnh chiến trận: Một mình đứng khóc thầm cùng cỏ lác
→ Dòng thơ giàu sức gợi, gợi nhớ cảnh chiến trường giữa núi rừng hoang vu, với nỗi buồn mất mát, cô đơn khiến nhịp thơ chậm lại, chùng xuống
Lời giải
a. Hai khổ thơ gợi ra: Không gian vắng lặng, thiếu sự sống của con người; cảm xúc, tâm trạng hốt hoảng lo âu của dân làng trong chiến tranh
b. Những dòng thơ nói về cảm nhận người con:
+ Mẹ bảo/ Còn hai bàn tay là còn của nả: Niềm tin của người con vào mình vào con người sau sự hủy diệt của chiến tranh
+ Chỉ có bầu trời làng ta đang trong trẻo lại: Khẳng định sức sống, sự hồi sinh kì diệu của con người và quê hương. Hai chữ “trong trẻo” gợi ra không gian tươi sáng, niềm tin vào ngày mai. Cuộc sống mới sẽ bắt đầu như chưa từng có thương đau
c. Nghệ thuật chính:
- Nghệ thuật đối lập: Quá khứ vắng lặng, đau thương trong chiến tranh với cuộc sống thanh bình, niềm tin vào sức hồi sinh của quê hương (học sinh lựa chọn dẫn chứng)
- Điệp từ: Không còn; hoảng hốt; bói đâu
→ Hiệu quả thẩm mĩ: gợi cảnh tượng hoang tàn, tố cáo sự hủy diệt của chiến tranh nhằm diễn tả khao khát về cuộc sống bình yên, trù phú của làng quê xưa (trẻ em tới trường, tiếng gà trưa đảo trứng, tiếng mõ trâu chiều) và cuộc sống thanh bình ngày nay
d. Khổ thơ 2,3 có vai trò vị trí quan trọng đối với toàn bài thơ:
- Thể hiện cấu tứ độc đáo của bài thơ: Trở về trong thanh bình – hồi tưởng quá khứ đau thương trong chiến tranh – khao khát được đắm mình, được sống gắn bó với quê hương mình
- Tái hiện chiến tranh đau thương nơi quê nhà làm nổi bật nỗi nhớ, khát khao sống trong hòa bình của người con trải qua trận mạc, hi sinh
Lời giải
- Người con khao khát:
+ Một ngày được nằm trên lá chuối ở xó vườn với cảm giác thật thoải mái để nghe gió, bay theo mây, thả hồn vào chuyến đò ngang để ngắm nhìn, đắm mình trong cảnh vật thiên nhiên của quê hương
+ Ngủ dưới bóng tre làng, lắng nghe tiếng đất để hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu nỗi lòng của những người xa quê
- Khao khát ấy được nhà thơ thể hiện đặc biệt:
+ Giãi bày nỗi niềm với mẹ (thốt gọi “Mẹ ơi”! mở đầu hai nỗi khát khao); xin mẹ cho mình thực hiện khát vọng
+ Dùng nhiều điệp từ, điệp ngữ tạo nên những điệp khúc mở ra những giá trị, những khát khao cháy bỏng của mình về làng quê
+ Khát vọng của người con đi theo trình tự từ hẹp đến rộng, từ những điều cụ thể đến những giá trị lớn lao: nghe gió mây, ngắm chuyến đò → hiểu văn hóa, lịch sử, con người, để thấu hiểu có cái nhớ mới làm nên nỗi nhớ
Đoạn văn 2
BƠ VƠ
(chương 2, Bỉ vỏ, Nguyên Hồng)
Tóm tắt tiểu thuyết “Bỉ vỏ”
Bính là cô gái nghèo làng Sòi. Vì nhẹ dạ, yêu một gã Tham đạc điền và bị hắn bỏ rơi giữa lúc bụng mang dạ chửa, cô bị cha mẹ hắt hủi, đay nghiến và đứa bé sinh ra phải đem bán đi vì sợ làng bắt vạ. Đau đớn, Bính trốn nhà đi Hải Phòng mong tìm được người tình nhưng lại rơi vào nhà chứa của mụ Tài sẽ cấu. Sống ê chề, cực nhục ở nơi bẩn thỉu hội hám, Bính ốm nặng.
Bính toan tự tử nhưng được Năm Sài Gòn, trùm lưu manh ở Hải Phòng, chuộc ra khỏi nhà chứa, chăm sóc hết lòng. Nhưng rồi Năm bị bắt. Thế là, bất đắc dĩ, Bính trở thành một “bỉ vỏ” – người đàn bà ăn cắp. Do một sự hiểu lầm và ghen tuông, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi. Bính về Nam Định, gồng thuê gánh mướn kiếm ăn. Được tin bố mẹ ở quê gặp tai hoạ có thể bị tù, Bính không còn cách nào khác, đã phải nhận lời lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ. Năm Sài Gòn bị bắt bởi chính tay người chồng Bính. Không chút do dự, cô đã lên xuống trại giam, mở khoá cứu Năm rồi cùng y đi trốn. Kết cục bi thảm đã đến: một lần, Năm cướp được một đứa bé đeo vòng vàng trên tàu thuỷ. Bính hốt hoảng nhận ra đó chính là đứa con mà bao lâu Bính nhớ thương. Nhưng nó đã chết! Giữa lúc đó, đội xếp, mật thám ập vào, Năm và Bính đều bị bắt.
Đọan trích sau là chương 2 của tác phẩm:
(1) Hải Phòng. Lần này là lần đầu tiên Bính bước chân đến một tỉnh ồn ào đông đúc, khác hẳn chốn quê mùa vắng vẻ. Bính trốn đi, sau đêm được bốn hôm. Bốn hôm dài quá chừng! [..] ấy đến nay ùng do hay d tiền ăn tiền tàu từ đã
Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã Nam để trả ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay. Bính hoang mang, cúi gằm mặt trong dải đường nhựa lấp lánh bóng trăng nhấc từng bước một.
Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu, miễn cho qua một đêm. Lúc này Bính bỗng hồi hộp, bối rối lạ thường. Những bụm cọ đen thẫm, ù ù lộng gió ở vườn hoa sông Lấp gợi trong trí Bính bao nhiêu hình dung quái gở. Bính tưởng con đường Bính đi tối tăm hoang vắng như cảnh một bãi tha ma. Những cành xoan xao động và những cành tre là ngọn bên những ngôi mộ chơ vơ mới đắp. Những tàu lá cọ to sùm suề giống những mớ tóc người điên hay thắt cổ.
Bính bật kêu khe khẽ:
- Biết làm sao đêm nay?!
Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm, một thân gái quê mùa đi bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may lạ thường. Nếu Bính không khéo gìn giữ, biết đâu đêm nay chẳng sẽ là cái đêm bắt đầu một cuộc đời khốn nạn nhơ nhuốc khác mà dù cực nhục chừng nào, Bính cũng phải cắn răng chịu, chứ không thể quay về quê nhà được. Bính thở dài. Mấy tai tiếng chắc đã đồn đi khắp làng trên làng ngoài. Thế nào họ chăng bảo lại vì mê giai, theo giai mà bỏ nhà đi. Cái tiếng theo giai đó là một sự nhơ nhuốc không sự nhơ nhuốc nào bằng. Vì người ta hiểu rằng: giai là một đứa xỏ xiên chỉ phá hoại trinh tiết người đàn bà, còn kẻ theo nó phải là một con đĩ thoã vô cùng.
Bính đã đi qua Sáu kho. Hôm nay các tàu chạy hết. Trên sông chỉ còn thấp C thoáng mấy ánh lửa leo lét, chập chờn của dăm chiếc thuyền con đỗ đằng xa. (2) Thốt nhiên Bính dừng bước, trong một phút Bính tưởng như là bến Sòi quê Bính. Bính ngầng đầu bỡ ngỡ nhìn, lắng tai nghe: tiếng đọc kinh đâu đây nhẹ nhàng vang trước gió lạnh, réo rắt và thấm thía... Sự hồi tưởng ấy làm Bính cảm thấy rõ rệt bố mẹ mình là giả dối. Bính ghê sợ cho sự “nguyện ngắm” hàng ngày chỉ dùng che mắt thế gian. Phải, chỉ che mắt thế gian thôi! Nay đi xưng tội, mai đi chịu lễ, sáng sớm nào cũng có mặt ở nhà thờ, đêm nào cũng thức tới mười một, mười hai giờ để đọc kinh, hỏi để làm gì?
Thì cũng như trăm nghìn gia đình chỉ ngoan đạo bề ngoài, gia đình Bánh bao năm được người làng khen là êm ấm đáng làm mẫu mực nhưng thực chẳng có lấy một chút gì yên vui, thuận hoà, đạo đức bên trong. Cha mẹ Bính cắn rứt nhau luôn, vì thiếu thốn, chửi mắng hành hạ Bính luôn vì Bính không như ai giảo hoạt, tinh ranh trong sự cạnh tranh khách đi đò và buôn bán mua rẻ bán đắt tôm cá của các thuyền chài lưới quen thuộc. Hơn nữa, Bính không biết mưu tính các cách gian lận với những khách gửi hàng để lo cho mình có cái bộ cánh mà nhà không sao sắm sửa được vì ruộng đất cày cấy không có, ngoài mảnh vườn chỉ được cái rau ăn còn đều trông vào con đò thì phải sinh sống rất khôn ngoan xoay giờ đủ mặt. Những điều này đã làm Bính suy nghĩ và đau lòng.
Bính buồn bã lắc đầu rồi giơ tay làm “dấu” đoạn thầm thì cầu kinh. “Lạy Cha chúng tôi ở trên giời, xin Cha cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ và tha nợ cho chúng tôi như chúng tôi đã tha kẻ có nợ chúng tôi... Thì Chúa sẽ ban ơn cho tôi giữ đạo nên ở đời này cho ngày sau được lên nước thiên đàng vui vẻ đời đời....
(3) Gió sông càng ù ù, sương càng mù mịt. Bính đọc hết năm chục kinh, làm “dấu”, đoạn khép chặt tà áo vào người rồi rảo bước. Chợt có tiếng người gọi:
- Cô kia đi đâu?
Bính không dám quay lại trả lời cứ lùi lũi đi nép vào rặng cây bên đường. Một chiếc xe tay đâm xô lại, chắn lấy lối đi, tiếp đến những tiếng cười ran:
- “Săn” kì được “mẻng” ấy cho tao.
Bính tránh hẳn sang bên kia, gằm mặt xuống xốc lại cái đẫy vải đeo sau lưng. Một người đàn ông vận quần áo lót kẻ sòng sọc rất chải chuốt và tóc bóng lộn, ngồi trên xe nom trõ mặt vào mặt Bính, Bính quay mặt ra chỗ khác. Người ấy kéo vạt áo Bính, ngọt ngào hỏi:
– Cô định tìm ai ở đây?
Bính hoảng hốt chực chạy. Nhưng chung quanh Bính năm chiếc xe đã vây kín, Bính kêu lên:
- Ô kìa!
Tên ngồi xe nhại lại, cười sặc sụa. Dáng điệu ngây thơ của Bính bảo rõ với bọn này rằng Bính là một gái quê mới ra tỉnh lần đầu và là một gái quê xinh đẹp hẳn hoi. Thật vậy, dưới ánh đèn điện, mắt Bính lấp lánh chớp luôn, đôi má mũm mĩm ửng hồng chúng trông ngon lành quá.
Một gã kéo xe nhưng tóc mai cũng xén nhọn và để dài như thằng ngồi xe, mặc hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc áo trắng là cổ bẻ và ngoài khoác áo tây vàng toan giằng lấy khăn vuông Bính, song hai gã khác ngồi trên xe ngăn lại không cho, rồi gã vận quần áo lót kẻ sòng sọc mượn cớ nhảy xuống bíu lấy vai Bính. Bính kêu thất thanh. Thừa cơ hai cái xe chạy đi đón khách dưới thuyền lên, Bính liền lẩn nhanh ra chỗ khác. Đám xe rãn cả, tản mỗi nơi một chiếc. Còn Bính, Bính đi ngược lên phố vì Bính nhận thấy nếu cứ lang thang, bơ vơ ở những chỗ đường vắng thì thế nào cũng còn bị chòng ghẹo.
Được một quãng có nhà cửa thì lại đến quãng vườn hoang. Những bụi cây là mù trước những ngọn đèn điện bóng mờ hiện ra trước mắt Bính làm trống ngực Bính lại đập thình thịnh. Chợt Bính lạnh toát cả người, quay đầu nhìn về đằng sau; một bóng người đương rảo gót như đuổi Bính. Bính đi nhanh hơn. Người theo sau cũng bước gấp, phút chốc hắn đi sát cạnh Bính và khẽ nói:
– Cô! Cô chậm bước chứ để tôi ngỏ câu chuyện này.
Nhời nói êm đềm khiến Bính bớt sợ, Bính đưa mắt nhìn thì đó là người ngồi trên xe ban nãy nhưng đã thay quần áo khác, Bính im lặng nhìn bộ y phục lạ lùng của hắn: cái áo dạ tím bó chẹt lấy lưng, hai ống quần lướt thướt như bằng lụa thì buông chùng quá gót, cái mũ dạ mới lạ làm sao, lóng lánh một chiếc tên mạ kém như dấu hiệu của lính. Bính chợt nhớ đến cái hạng công tử cũng kiểu ăn mặc như thế này những ngày hội đầu năm vùng Bính bọn chúng thường kéo về chớt nhả gái làng. Bính vội quay đi.
Hắn chẳng còn do dự, nắm ngay cánh tay Bính, cặp mắt sáng lên khác thường
– Cô đi đâu bây giờ? Đi một mình mà không buồn à?
Bính thót người lại hết sức giăng tay ra, nhưng hắn đã bá lấy cổ Bính, hôn vào má Bính đánh chụt một cái. Đường vắng vẻ quá, gió thổi lào xào trong những bụm cọ lù mù, vành trăng lại bị mây đen che đi.
Hắn bế xốc Bính lên, mặc Bính giãy giụa the thé van lơn, chạy vào trong vườn. Bính phải kêu thét lên nhưng gió thổi mạnh đánh bạt cả tiếng Bính đi.
Trong chớp mắt hắn dằn Bính xuống vệ cỏ...
Bỗng một đoàn xe đạp xăm xăm từ đằng xa tới, đèn xe kéo dài những vệt sáng rung động trên đường nhựa, có một ngọn soi chõ vào vườn như tìm tới.
Bính vội gào to:
- Các ông ơi! Cứu tôi với! Cứu tôi với!
Chẳng để Bính kêu thêm, hắn hốt hoảng buông Bính ra rồi chạy thẳng. Bính choáng váng mừng rỡ, nhặt mau cái đẫy vải lăn trên bãi cỏ chạy ra đường. Gió thổi mạnh. Mấy người ngồi xe đạp chẳng nghe thấy gì, song họ đều ngẩng đầu tò mò trông khi Bính trong vườn xô ra. Bính cố giữ tự nhiên, lẳng lặng rảo bước một lát tới đầu phố. Trống ngực Bính vẫn đập rộn. Cảnh vật vẫn u ám! Bính len lét đến trước một cái hiên rộng, ngồi thở. Đồng hồ ở trong nhà vắng lên mười một tiếng
(4) Đường sá càng vắng tanh, vắng ngắt. Bính rùng mình. Đêm nay đối với Bính mới dài và cực nhục làm sao! Còn ê chề, cay đắng hơn cả một năm lam lũ! Bính nép người bên góc tường, gục mặt vào bàn tay, tê tái những cảm xúc đau xót sôi nổi trong lòng. Bính càng mỏi mệt, ròng rã một ngày, Bính đi không mấy lúc nghỉ chân. Đã thế lại vừa phải chống cự với thằng đểu kia nên hai đầu gối Bính mỏi dừ, bụng cồn cào ngâm ngẩm đau. Gió đêm như ru, Bính chợp mặt thiu thiu ngủ.
Bỗng không biết từ đâu đưa tới tiếng trẻ con khóc oe oe giống tiếng mèo gào vang động cả trời khuya.
Bính mở choàng mắt, chợt nhớ đến đứa con thơ chưa đầy tháng, tại cha mẹ Bính cay nghiệt, tại cái tục lệ quái ác mà Bính phải xa nó, xa nó không biết bao giờ lại được ôm nó trong lòng. Bính vừa cất tiếng khóc rưng rức thì tiếng khóc kia nín bặt, Bính vụt nghĩ đến đứa bé kia khóc thế nào chả có người vỗ về ru cho bú, còn con Bính thân phận con nuôi con mày, giá đêm khát sữa, thì dù có được chiều chuộng mấy chăng nữa cũng khó mà được bú đêm. Ấy là không kể đến người nuôi dỗ mãi không nín thì thế nào chả phát nó năm bẩy chiếc phát cho bõ cái bực tức bị thức giấc.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học 1985)
* Nguyên Hồng (1918 – 1982), tên khai sinh Nguyễn Nguyên Hồng, là một nhà văn, nhà thơ. Ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (1910). Vì có một tuổi thơ vô cùng bất hạnh, cay đắng nên ngay từ những tác phẩm đầu tay, Nguyên Hồng đã hướng ngòi bút về những người nghèo khó gần gũi mà ông yêu thương với một sự cảm thông sâu sắc, với tâm hồn của một người từng trải.
Lời giải
* Những đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại:
- Nội dung phản ánh hiện thực trong phạm vi không gian thời gian rộng lớn: cuộc đời của Tám Bính khi là cô gái trẻ đến khi vào tù; Không gian làng quê và Hải Phòng
- Nhân vật: Nhiều nhân vật thuộc gia đình làng quê, Tám Bính và xã hội – nơi diễn ra cuộc đời lang bạt của Tám Bính. Phản ánh trọn vẹn số phận của Tám Bính: mở đầu là sự lỡ dở (sinh đứa con không cha, kết thúc bi đát là vào tù)
- Cốt truyện với vô số sự kiện về cuộc đời Tám Bính: Tám Bính bỏ nhà đi, vào nhà chứa, Năm Sài Gòn đuổi Bính đi, cô lấy một viên mật thám để có tiền gửi về cứu bố mẹ, Tám Bính cứu Năm Sài Gòn cùng y đi trốn. Kết thúc: chứng kiến con chết, bản thân bị bắt.
Lời giải
- Tóm tắt nội dung văn bản Bơ vơ:
+ Đoạn 1: Bính bỏ nhà đi đã 4 ngày và vẫn bơ vơ, lo lắng ở Hải Phòng
+ Đoạn 2: Bính nhớ về làng Sòi, về nhà với bao nỗi cay đắng
+ Đoạn 3: Bính bị trêu ghẹo, ăn hiếp nơi phố thị
+ Đoạn 4: Bính bơ vơ, buồn bã và trào lên nỗi thương nhớ con
- Đoạn trích ở phần đầu tiểu thuyết có vai trò mở đầu số phận của nhân vật tiểu thuyết: Tám Bính bỏ nhà ra đi và bắt đầu chuỗi ngày cơ cực tại Hải Phòng, cho số phận khốn cùng của cô.
Lời giải
- Bính phải bỏ nhà ra đi vì:
+ Bố mẹ Bính là người độc ác: chửi rủa Bính; bán con của Bính để lấy tiền tiêu
+ Bính không thể chịu đựng được dư luận, sự đả kích ngay chính quê nhà mình
- Lí do này có giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Tố cáo sự tàn độc của tư tưởng cổ hủ, những con người bất nhân (bố mẹ Bính) đã đẩy Bính vào con đường cùng (khiến Bính hư hỏng sau này)
+ Bênh vực, cảm thông với nỗi khổ của Bính, người con gái nông thôn cả tin này không thể chống đỡ được những cạm bẫy của xã hội
Lời giải
a. Tình cảnh hiện tại của Tám Bính rất cơ cực:
- Bỏ nhà quê ra phố, hết tiền: Món tiền sáu hào chắt bóp ngót nửa năm trời đã dùng để trả tiền ăn, tiền tàu từ Nam Định ra Phòng mất bốn hào. Còn hai hào thì vừa vặn ăn uống trong hai hôm nay; lang thang trong đêm bị trêu ghẹo, sàm sỡ,…
- Bế tắc, hoang mang tột độ: Bính đi như thế không cần biết rồi sẽ đi tới đâu: “Biết làm sao đêm nay?! Bính lại thấy đêm lạnh và dài lắm”
b. Cô Bính nhận thức được cảnh ngộ của mình:
- Một thân gái quê mùa bỡ ngỡ lang thang ở giữa cái tỉnh lắm kẻ lừa lọc, nham hiểm này, gặp những sự không may là thường
- Việc mình bỏ đi sẽ đồn khắp làng: theo trai, đĩ thõa,…
- Ý nghĩa: Bính - cô gái trẻ bất lực, bế tắc trước hoàn cảnh, ý thức được cảnh ngộ nhưng không thể thoát được cảnh ngộ ấy; việc Tám Bính sẽ liên tiếp gặp tai ương trong cuộc đời là tất yếu → tố cáo, lên án xã hội đẩy con người vào cảnh ngộ khốn cùng.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đoạn văn 3
THÁNG MƯỜI
Những ngọn khói trẻ chăn trâu đốt rạ trên cánh đồng sau vụ gặt
Thở vào ta hương vị tháng Mười
Sau mỗi gốc rạ khô tiếng gió ngân lên thối qua những bẹ lá tướp
Ta nghe có người nấp sau đó gọi ta, và ta đi, ta đi...
Ta đi qua tháng Mười, ta đi qua tiếng gọi buổi chiều của mẹ
Mây trời vun lên những đống rơm khô
Dấu chân ta xóa dấu chân chú bê vàng lạc mẹ và dấu chân chú bê vàng xóa dấu chân ta
Khi bóng đêm vụt ra đứng chặn trước mặt ta, ta vội quay lại tìm dấu chân mình
Òa khóc.
Ta tin có một mụ phù thủy đã biến ta thành một chú bê
Giờ chẳng còn tháng Mười xưa, chẳng còn ngọn khói xưa, chẳng còn...
Ta đợi mãi đợi mãi một mụ phù thủy
Từ tháng Mười một bay về để biến ta thành chú bê xưa.
(Sự mất ngủ của lửa - Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội nhà văn, 2015)
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đoạn văn 4
CƠN ĐAU DÀI
Tóm tắt tác phẩm “Mùa lá rụng trong vườn”
Mùa lá rụng trong vườn kể về gia đình ông Bằng, một nhân viên bưu điện đã nghỉ hưu tại Hà Nội. Ông Bằng có năm người con trai. Anh cả Tường đã hi sinh ngoài mặt trận, vợ anh là Hoài đã tái giá nhưng vẫn thường xuyên viết thư thăm hỏi gia đình. Đông là anh hai, trung tá đã xuất ngũ, sống cuộc sống đơn giản; Lí, cô con dâu đảm đang, nhanh nhẹn. Con trai thứ ba của ông là Luận, một nhà báo có nhiều trăn trở, suy tư về cuộc sống. Vợ anh là Phượng, một người tốt bụng, luôn sẵn lòng giúp đỡ mọi người. Người con thứ tư – Cừ, lại hư hỏng, không nghe lời cha mẹ, đã từng bị đuổi khỏi quân đội. Cuối cùng, em út Cần đang đi học ở Liên Xô, sắp về nước.
Bi kịch ập tới khi Cừ bỏ việc ở xí nghiệp, trốn ra nước ngoài, bỏ lại vợ và hai con nhỏ.
Sau khi trốn sang Canada, Cừ mới nhận ra lỗi lầm của mình thì đã muộn. Anh liền gửi bức thư cuối cùng về nhà trước khi uống thuốc tự tử. Nhận được thư, bệnh cao huyết áp của ông Bằng tái phát, khiến ông phải nhập viện, rồi qua đời. Đồng thời, vợ và hai con trai của Cừ vô cớ bị sa thải khỏi nông trường, phải đến ở nhờ nhà ông Bằng, rồi nhà chị Hoài. Trước tình cảnh khó khăn, Luận, Phượng và Hoài đã tỏ rõ mình là những người có tinh thần trách nhiệm cao đẹp, thương người như thể thương thân.
Lí chán chường khi sống cạnh Đông, nên khi ông trưởng phòng ở cơ quan dụ dỗ, Lí đã đi công tác Sài Gòn gần tháng trời với ông ta, hưởng lạc, bỏ bê gia đình. Chỉ tới lúc đã đi khỏi nhà, chị mới nhận ra lỗi sai của mình, viết thư tỏ ý muốn quay trở về. Câu chuyện kết thúc vào một đêm giáp Tết, khi mọi người nhận được thư của Lí.
Đoạn trích sau là chương 18 của tác phẩm "Mùa lá rụng trong vườn"
(1)... đêm đêm Luận nằm ngủ có lúc giật mình tỉnh giấc. Quả khô, cành khô rụng lá trên mái nhà như chạm vào nỗi xôn xao thương nhớ. Đông co ro trong
giá lạnh. Đã thôi chửi đời và thôi nguyền rủa Lí. Nhưng nỗi đau thì mỗi ngày một ngấm thêm. Đông hiểu, anh vừa mất đi một cái gì hệ trọng và thân thiết quá. Lần giở từng trang đời đã xa, anh nghiệm ra: Lí có nhiều thói xấu, nhưng sống bên chị, về cơ bản, anh vẫn thoải mái, yên vui. Chị là sắc màu, là nhịp điệu đời sống lúc nào cũng lấp lánh, tưng bừng bên anh. Với anh, chị là một người mẹ, một người chị tận tình.
Gian buồng, căn nhà, khu vườn còn nhắc nhở bao kỉ niệm thiết tha, còn vang ngân tiếng chị, còn lưu giữ vẹn nguyên bóng hình chị. Khi bị mất rồi, anh mới hiểu biết giá trị của cái không còn. Đau đớn ngấm đến tận nơi sâu thẳm nhất, anh lại nổi cơn khùng, nhưng lần này ngấm ngầm và chỉ trút nỗi căm hờn vào kẻ đã quyến rũ vợ anh – gã Trưởng phòng Vật tư khốn nạn.
Trong bữa cơm với gia đình Luận, Đông có nói tới gã trưởng phòng nọ với lời đe doạ: nó gây gió, nó phải chịu bão. Luận giật mình thấy mắt Đông lúc ấy mất hết thần sắc y như khi Đông túm cổ áo Luận và lúc nói sẽ bắn chết thằng Cừ.
Phượng lo lắng bảo chồng: “Anh Luận, nên trông nom, theo sát anh Đông, ngộ nhỡ có chuyện gì..” Luận lên ở cùng buồng với Đông, anh muốn khuây khoả và kiềm chế ông anh: con người quen sống giản lược, bị dồn vào bức bách dễ manh động bột phát lắm.
Một buổi chiều, hai người ngồi uống nước và nghe nhạc Vácne. Bỗng Đông hỏi:
– Nhạc Vácne hùng tráng đấy chứ, có gì mà ông cụ không thích nhỉ?
– Chỉ vì nghe em nói Hitle nó thích nhạc ông này thôi. – Luận đáp. – Anh thấy không, ông cụ là người có học còn vậy. Con người có những định kiến cố định, phá vỡ, đổi thay không dễ đâu.
Đông im, như nghĩ ngợi. Lát sau, Luận tiếp:
- Con người vượt ra khỏi cái quy định là rất khó. Em không muốn nói ngoại cảnh, thời đại, mà nói cái đã bị quy định ở trong mỗi con người.... Chị Lí cũng vậy. Chị là nạn nhân của chính mình. Và anh, anh nên rút kinh nghiệm.
Nói cái ý cuối cùng, Luận đã đắn đo mãi. Luận nghĩ: “Đông đã bình tâm, nên nói để Đông xem xét lại mình và tìm cách cứu vãn tình hình. Nhưng, Đông vụt đứng dậy:
- Chẳng lẽ tôi là thằng khốn nạn à?
- Anh không hiểu ý em.
- Tôi, mấy chục tuổi Đảng, tuổi quân, có mặt ở chiến trường suốt hai cuộc kháng chiến, tôi là thằng đểu giả, lừa lọc, phản bội, lưu manh, côn đồ à? Vì chịu ảnh hưởng của tôi mà cô ấy hư hỏng à?
Đông nói dồn dập gay gắt và vẫn không vượt được ra khỏi sự sơ lược trong suy nghĩ. Luận ngắt lời anh, giọng hơi bực:
- Không ai trẻ con, ngu dốt đến mức quy kết như thế! Anh tốt, nhưng anh chưa đủ những đức tính cần thiết. Cuộc sống phức tạp. Nhưng phải sống thực sự với nó, phải có trách nhiệm với nó, vì nó. Nói cụ thể là phải có trách nhiệm với cả từng con người. Càng ngày mỗi cá thể càng nổi lên, có vị trí quan trọng vô cùng trong cuộc sống.
Đang trong cơn phẫn khích, Đông không kìm được, cắt ngay lời Luận:
- Chỉ có vấn đề, nếu nói từ gốc, là tôi chọn nhầm thôi. Cậu lí luận đặc sệt sách vở. Chiến tranh, tất cả tâm lực phải dành cho việc đánh giặc. Người ở nhà phải tự lo lấy. Cô ấy hư đốn lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm?
Đông lại phải tuột những ý nghĩ tốt đẹp về Lí, lại rơi vào trạng thái thần kinh căng thẳng. Lại văng ra lời chửi rủa Lí, gã trưởng phòng và các thói tệ tư sản. Lát sau, những mặc cảm nhục nhã trỗi dậy, cay nhức tâm trí anh, anh rơi hẳn vào cuồng nộ.
Đến cao điểm, Đông tiến đến trước mặt Luận, hai mắt đỏ nọc và giọng lạc đi:
Cậu mà con bênh con đĩ ấy hả? Trời ơi sao tôi không chết luôn lúc tiến đến cửa ngõ Sài Gòn cho rồi!
Luận ứa nước mắt vì câu kêu trời đau đớn ấy của Đông. Đông đứng lặng, to lớn, run rẩy, đầu bạc phếch, nước mắt xối trên hai gò má xám.
(2) Chính lúc ấy, Phượng ra mở cổng vì có tiếng chuông gọi. Người gọi cổng chào Phượng, tự giới thiệu là Cán bộ Tổ chức xí nghiệp Lí cần gặp chồng Lí vì một việc rất cần kíp.
Đông vội lau mặt, Luận sửa soạn ấm chén xong, quay vào cái tủ sách, tiếp tục xếp dọn tư liệu, sách vở của cha. Đúng như Luận dự đoán, anh cán bộ Tổ chức sau khi hỏi qua về quan hệ vợ chồng Đông – Lí, nhìn thẳng vào mặt Đông, giọng thật nghiêm trang:
- Xin báo để anh biết, hiện giờ chị Lí sống chung như vợ chồng chính thức với một người đàn ông. Anh này nguyên là Trưởng phòng Vật tư đơn vị chúng tôi, vừa rồi đã bị chúng tôi khởi tố vì tội tham ô. Nay, tình hình như vậy, chúng tôi quyết định kỉ luật sa thải chị ấy. Về việc này gia đình ta có ý kiến gì không? Đang quay mặt vào cái tủ sách, vờ như đang xếp dọn, để dõi theo câu chuyện,
Luận quay phắt ngay lại, vai đập đánh thình vào cánh tủ, cố kìm giữ để khỏi bật tiếng kêu kinh sợ. Anh càng kinh sợ hơn khi nhìn thấy Đông như bất động trong lòng ghế, bàn tay dày xoè rộng úp vào mặt, trong khi hai ngón cái và ngón trỏ bấm chặt vào hai bên thái dương. Đông đang tê dại trước một sự phũ phàng. Trong Luận lại vang lên lời kêu gào thống thiết: Anh Đông phải có ý kiến ngay đi! Không thể xử lí như vậy được!
Mặt Đông nùng nục bỗng nghiêm lại một cách ngờ nghệch, biến thái của cơn đau thất thần, lạc trí và mỗi Đông hé mở, thoát ra một giọng nói gần như tuyệt vọng:
– Cái đó thì... tuỳ các đồng chí thôi!
Luận run hết cả người lên, vừa lo sợ vừa giận dữ, Luận chỉ muốn nhảy lại quát tướng vào mặt Đông và anh cán bộ nọ. Sao các anh lại quyết định một việc hệ trong như thế trong khi thần kinh các anh không bình thường. Và anh Đông, qua sự việc này, tôi có thể nói anh là một kẻ vô trách nhiệm hoàn toàn!
Luận lao xuống gác, đuổi theo người cán bộ nọ, tâm não bừng bừng trong cơn gào thét dữ dội và âm thầm:
- Đồng chí ơi, chính tôi đã nghe thấy các đồng chí ở xí nghiệp khen ngợi chị
Lí hết mực. Tội trạng chị ấy chưa đáng đến mức kỉ luật ấy. Xử lí chị ấy như vậy là dứt khoát đẩy chị ấy xuống bùn, là cắt đường trở về của chị ấy. Đồng chí không nên căn cứ vào ý kiến của anh Đông. Anh ấy lúc này còn đâu là sáng suốt! Các đồng chí nên gặp chị Lí một lần nữa đi.
Nhưng người cán bộ nọ đã đi.
(3) Quay vào khu vườn, phong phanh một chiếc áo len mỏng mà người Luận nóng bừng. Lòng giận sôi lên, anh ngước lên nhìn buồng Đông. Đông vừa bật đèn. Đông vừa vặn máy hát. Không! Không thể hời hợt và vô trách nhiệm như thế! Con người thông minh và đần độn, mạnh mẽ và yếu ớt thảm hại. Dưới tác động của một ngẫu nhiên bất hạnh rất nhỏ thôi, đời một con người cũng có thể xoáy lật ngược chiều tức khắc. Con người, cần phải được thể tất, cần phải đỡ nâng, dắt dìu. Ngay ngày mai Luận phải đến cái xí nghiệp ấy để phản bác cái quyết định tắc trách của họ với Lí. Đời Lí lại thêm một hiểm hoạ, phải nhanh tay cứu chị ấy.
Lúc ấy, Phượng vừa tưới rau và vun cây quất xong. Chị ghếch cái cán cuốc vào thân cây táo, hồi hộp lo lắng vì thấy Luận mắt đăm chiêu vừa từ cổng đi vào, ngồi xuống cái ghế đá và úp mặt vào hai lòng bàn tay.
- Anh Luận. Anh vào ăn cơm đi.
– Phượng à... anh buồn quá, em ạ.
Luận ngẩng lên. Ngước theo hai cánh tay Phượng vừa nâng từ từ lên cao, vòng ra sau gáy, vơ mái tóc cặp lại, anh nhận ra hai cánh tay Phượng mảnh dẻ quá, gầy guộc quá, tiều tuỵ quá. Nao dậy trong anh nỗi lo thắt ruột gan: Phượng đã có mang được ba tháng.
– Anh Luận ạ, số tiền ông để lại ba nghìn. Tang lễ cho cụ mất một nghìn rưởi. Còn một nghìn rưởi. Em định gửi cho mẹ con thằng Quân anh, Quân em. Không thấy Luận đáp, chị hiểu chồng chị đang phân tâm và chính chị đang sốt ruột muốn biết người ở xí nghiệp Lí mang tin gì đến.
Luận quay lại, lẫn trong tiếng thở dài: Chị Lí bị sa thải rồi, em ạ. Phượng bỗng thấy rét run. Có cảm giác nỗi sợ hãi truyền kiếp vừa phát sinh từ bóng tối hư huyền trong khu vườn đang ám ảnh chị, làm chị nổi gai và gây gây như là lên cơn sốt. [...].
(Ma Văn Kháng, Mùa lá rụng trong vườn, NXB Trẻ, 2011)
(*) Tên văn bản do nhóm biên soạn đặt.
* Ma Văn Kháng (sinh năm 1936, tên khai sinh là Đinh Trọng Đoàn) là một nhà văn nổi bật của nền văn học đương đại Việt Nam nửa năm sau thế kỉ XX, đặc biệt từ khi bắt đầu thời kì Đổi mới.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Xem tiếp với tài khoản VIP
Còn 12/20 câu hỏi, đáp án và lời giải chi tiết.
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.