Đọc văn bản sau:
THẰNG GÙ
Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng. Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài.
Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy. Bọn trẻ cười ré khi thấy cái hình gấp khúc đó cứ như lăn về phía trước. Chao ôi, thằng Gù ...
[...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng. Đây quả là cả một sự kiện đối với cái làng đang mê mệt, thiếp lặng đi sau những trận mưa ròng rã này. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng, Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù.
Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế ...”. Nghe tiếng hô, thằng gù đỏ căng mặt mày, lên gân tì cái lưng gù xuống đất cố duỗi thẳng đôi chân. Phải trồng cây chuối nhiều lần nên trán nó ướt nhầy mồ hôi. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi” vẫn thúc giục không ngớt.
Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi”. Tôi nín thở nhìn theo nó. Nó chen vào làm gì, cho tiền những người hát rong chăng? Tiếng ghi ta điện vẫn bập bùng, rấm rứt. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét:
- Thế mà cười được à? Đồ độc ác!
Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần. Tất cả bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng cúi gằm mặt xuống. Tiếng sấm ì ùng từ dãy núi dội đến. Hình như trời lại sắp mưa.
Theo Hạ Huyền
(Con gái người lính đảo, Truyện đọc thêm môn Giáo dục công dân và môn Ngữ văn ở THCS, NXB Giáo dục, 2003)
Chú thích: Hạ Huyền, (1957-2009) – tên thật là Đỗ Văn Tiến, Một nhà văn chuyên viết truyện thiếu nhi, đồng thời là một nhà báo xuất sắc. Ông nguyên là trưởng cơ quan đại diện Tạp chí Văn Hiến Việt Nam tại Thanh Hóa, đã có nhiều đóng góp trong văn học thiếu nhi cũng như báo chí Việt Nam.
Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu ngắn gọn tác dụng của ngôi kể đó?
Đọc văn bản sau:
THẰNG GÙ
Làng tôi có một đứa trẻ bị tật nguyền. Nó tên là Đức, một cái tên hẳn hoi nhưng tất cả bọn trẻ chúng tôi đều gọi tên nó là thằng Gù. Lên mười tuổi mà thằng Gù vẫn chưa đi học, chẳng hiểu do mặc cảm hay do điều gì khác. Nhiều hôm từ trong phòng học (phòng học của chúng tôi ở tầng hai), tôi thấy thằng Gù chăn trâu ngoài cánh đồng. Cái hình người gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu khiến tôi nhận ngay ra nó. Nó và con trâu giống như hai chấm đen nổi lên giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng. Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài.
Thằng Gù lảng tránh tất cả các trò chơi của chúng tôi. Những tiếng trêu chọc: “Ê, con lạc đà châu Phi”, “Tránh ra chúng mày ơi cho bà còng đi chợ” làm nó càng cúi gập người xuống, mắt dí vào bụng. Nó im lặng len lét vòng qua chỗ chúng tôi đang chơi đùa. Có lần, nó bỏ chạy. Bọn trẻ cười ré khi thấy cái hình gấp khúc đó cứ như lăn về phía trước. Chao ôi, thằng Gù ...
[...] Một buổi chiều mưa vừa dứt, nắng mới tưng tửng hé sáng vạt đồi, chúng tôi chợt nghe tiếng đàn ghi ta vang lên từ chiếc loa nén nào đó. Có người hát rong về làng. Đây quả là cả một sự kiện đối với cái làng đang mê mệt, thiếp lặng đi sau những trận mưa ròng rã này. Chúng tôi ùa ra xem. Người lớn, trẻ con, vòng trong, vòng ngoài lố nhố vây quanh đoàn người hát rong. Tôi gọi là đoàn vì họ có tới ba người. Hai đứa trẻ và một người đàn ông mang kính đen, đeo cây đàn ghi ta trước bụng, Trong hai đứa trẻ, có một đứa giống hệt thằng bé tật nguyền của làng tôi. Nó cũng bị gù.
Nó biểu diễn nhiều trò. Buồn cười nhất là trò trồng cây chuối. Không phải nó trồng cây chuối bằng tay và đầu như lũ trẻ chúng tôi thường làm. Nó trồng bằng cái lưng gù. Đoạn gấp giữa đỉnh gù và đầu thành cái đế đỡ đôi chân khẳng khiu của nó dựng đứng. Mỗi lần nó trồng cây chuối mọi người lại cười ồ. Có người hứng chí vỗ tay hét: “Trồng lại đi, thế thế ...”. Nghe tiếng hô, thằng gù đỏ căng mặt mày, lên gân tì cái lưng gù xuống đất cố duỗi thẳng đôi chân. Phải trồng cây chuối nhiều lần nên trán nó ướt nhầy mồ hôi. Đã thế tiếng hô “Làm lại đi” vẫn thúc giục không ngớt.
Giữa lúc đó thì nó chen chân vào. Thằng Gù của làng tôi. Tiếng cười rộ: “À, hai thằng gù. Đức ơi, mày trồng thêm cây chuối nữa đi”. Tôi nín thở nhìn theo nó. Nó chen vào làm gì, cho tiền những người hát rong chăng? Tiếng ghi ta điện vẫn bập bùng, rấm rứt. Nó từ từ đi đến bên “cây chuối” người. Đỡ thằng bé gù đứng thẳng lại, nó bỗng quắc mắt nhìn vòng người vây quanh. Bất ngờ nó thét:
- Thế mà cười được à? Đồ độc ác!
Sau tiếng thét của nó, đám đông bừng tỉnh. Tiếng cười tắt lặng. Người đàn ông đang gảy đàn cũng dừng tay sững sờ. Tất cả các cặp mắt dồn về nó. Khuôn mặt thằng Đức đẫm lệ. Nó móc túi áo ngực lôi ra những đồng tiền được gấp cẩn thận đặt vào lòng mũ của người hát rong. Đôi vai nó rung rung thổn thức. Cái vòng người đang vây quanh tự nhiên gãy vỡ. Đứt từng quãng. Không ai bảo ai, từng người một lặng lẽ tan dần. Tất cả bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng cúi gằm mặt xuống. Tiếng sấm ì ùng từ dãy núi dội đến. Hình như trời lại sắp mưa.
Theo Hạ Huyền
(Con gái người lính đảo, Truyện đọc thêm môn Giáo dục công dân và môn Ngữ văn ở THCS, NXB Giáo dục, 2003)
Chú thích: Hạ Huyền, (1957-2009) – tên thật là Đỗ Văn Tiến, Một nhà văn chuyên viết truyện thiếu nhi, đồng thời là một nhà báo xuất sắc. Ông nguyên là trưởng cơ quan đại diện Tạp chí Văn Hiến Việt Nam tại Thanh Hóa, đã có nhiều đóng góp trong văn học thiếu nhi cũng như báo chí Việt Nam.
Truyện được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu ngắn gọn tác dụng của ngôi kể đó?
Quảng cáo
Trả lời:
- (1) Ngôi kể thứ 1
- (2)Tác dụng: tạo ra sự chân thực, gần gũi, giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc tâm lý, tình cảm, suy nghĩ của nhân vật . Cách kể này cho phép người kể bộc lộ trực tiếp những gì mình nghe, thấy, trải qua và cảm nhận, từ đó tăng tính thuyết phục và khả năng đồng cảm của độc giả.
Câu hỏi cùng đoạn
Câu 2:
Xác định và gọi tên thành phần biệt lập có trong đoạn văn bản in đậm?
Học sinh xác định và gọi tên:
- Xác định thành phần biệt lập: Chao ôi
- Gọi tên thành phẩn biệt lập: cảm thán.
Câu 3:
Em hiểu được tâm trạng và mong muốn thầm kín gì của Đức khi đọc những câu văn: “ Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài. ”
Em hiểu được tâm trạng và mong muốn thầm kín gì của Đức khi đọc những câu văn: “ Nó đứng nhìn về phía trường học. Tiếng đọc bài đồng thanh của chúng tôi vang vang lan tỏa ra xung quanh. Chắc nó nghe được tiếng đọc bài. Cái chấm đen gấp khúc, bé nhỏ dường như bất động. Chỉ có con trâu thỉnh thoảng lại vươn cổ lên kêu “nghé ọ” một hồi dài. ”
Học sinh hiểu được tâm trạng và mong muốn thầm kín của cậu bé Đức. Có thể theo hướng sau:
- Tâm trạng: cô đơn, tủi thân, lạc lõng…
- Mong muốn:
+ Khát khao được đi học, được đến trường, được học chữ như những bạn bè cùng trang lứa.
+ Mong muốn được hòa nhập cộng đồng, có bạn bè: Việc Đức "bất động" khi lắng nghe tiếng đọc bài đồng thanh cho thấy sự cô đơn, lạc lõng của cậu. Cậu bé chắc hẳn ước ao được cùng bạn bè cắp sách đến trường, cùng đọc bài, cùng vui chơi, thay vì phải chăn trâu một mình ngoài cánh đồng.
+ Mong muốn được sống một cuộc sống bình thường: được đến trường, được học chữ, không có sự trêu chọc, không có mặc cảm…..
-> Đoạn văn đã khắc họa một cách tinh tế tâm trạng buồn tủi, cô đơn nhưng cũng đầy khao khát của Đức về một cuộc sống bình thường, được học hành, được hòa nhập và được yêu thương.
Câu 4:
Tìm trong văn bản những chi tiết miêu tả thái độ, cách ứng xử của người xem đối với cậu bé gù về làng “ tôi” biểu diễn? Nhận xét về thái độ và cách ứng xử đó?
Tìm trong văn bản những chi tiết miêu tả thái độ, cách ứng xử của người xem đối với cậu bé gù về làng “ tôi” biểu diễn? Nhận xét về thái độ và cách ứng xử đó?
* Những chi tiết miêu tả thái độ, cách ứng xử của người xem đối với cậu bé gù về làng “ tôi” biểu diễn :
+ “mọi người lại cười ồ”,
+ “có người hứng chí vỗ tay hét: Trồng lại đi, thế thế...”
+ “tiếng hô ‘Làm lại đi’ vẫn thúc giục không ngớt”.
* Nhận xét:
+ Đám đông thể hiện sự hào hứng, thích thú trước tiết mục của cậu bé gù, nhưng sự vui thích ấy lại xuất phát từ việc cười nhạo sự khác biệt về ngoại hình – một cách phản ứng vô cảm và thiếu nhân văn.
+ Đây là hành động đáng phê phán, thể hiện sự vô tâm trước nỗi đau của người khác và đặt niềm vui cá nhân lên trên lòng trắc ẩn cần có.
Câu 5:
Từ câu chuyện, đặc biệt là tiếng thét của nhân vật Đức, em đã nhận ra bài học nào cho bản thân mình?
Từ câu chuyện, đặc biệt là tiếng thét của nhân vật Đức, em đã nhận ra bài học nào cho bản thân mình?
Học sinh nêu được bài học cho bản thân. Có thể theo hướng:
- Bài học về lòng nhân ái, sự cảm thông và thái độ đúng đắn trước những người bất hạnh. Chúng ta cần phải biết yêu thương, chia sẻ với những người xung quanh, đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, khuyết tật. Ai trong chúng ta cũng cần học cách sống tử tế, biết yêu thương và sẻ chia thay vì vô cảm hay cười nhạo người khác.
- Không nên chế giễu, kỳ thị mà cần phải có sự đồng cảm, giúp đỡ để họ không bị mặc cảm, tổn thương mà cảm thấy được đồng cảm, yêu thương……
- Cần phải biết nhìn nhận lại hành động của mình, biết ăn năn, hối lỗi khi đã gây ra những tổn thương cho người khác.
Câu 6:
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hoàn cảnh đáng thương của nhân vật Đức trong truyện.
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích hoàn cảnh đáng thương của nhân vật Đức trong truyện.
|
a. Đảm bảo yêu cầu bố cục, hình thức của 1 đoạn văn |
|
b. Xác định đúng yêu cầu về nội dung: Phân tích hoàn cảnh đáng thương của cậu bé Đức |
|
c. Viết được đoạn văn phân tích đảm bảo các yêu cầu: - Mở đoạn: Giới thiệu ngắn gọn về văn bản Thằng gù và nhân vật Đức. Nêu khái quát hoàn cảnh của nhân vật: rất đáng thương, chất chứa nỗi đau thể xác và tinh thần - Thân đoạn: Phân tích hoàn cảnh của nhân vật Đức + Đức sinh ra không được lành lặn, bình thường như những đứa trẻ khác. Cậu bé đã mang trên mình một tật gù khiến dáng người “gấp khúc, chỗ đỉnh gù cao hơn chỏm đầu” – Đó là sự thiệt thòi rất lớn của Đức + Đức trở thành đối tượng bị bạn bè trêu chọc, xa lánh. Ngay từ tên gọi, cậu bé đã bị tước đi cái tên "Đức" vốn đẹp đẽ, thay vào đó là biệt danh "thằng Gù" đầy miệt thị, ám chỉ khuyết tật về ngoại hình. Cái lưng gù không chỉ là một khiếm khuyết cơ thể mà còn là gánh nặng tâm lý, đẩy cậu bé vào sự cô lập. + Bạn bè xa lánh, chế giễu cùng những lời trêu chọc ác ý như "con lạc đà châu Phi", "bà còng đi chợ" đã khiến Đức phải cúi gập người, mắt dí vào bụng, lén lút tránh né mọi cuộc vui. sống khép kín, thiếu sự cảm thông và chia sẻ.
+ Vì mặc cảm với hình dạng của bản thân hoặc cũng do hành cảnh gia đình, lên mười tuổi Đức vẫn chưa đến trường, chỉ âm thầm chăn trâu ngoài cánh đồng, đứng từ xa ngóng về phía lớp học. Hình ảnh “cái chấm đen gấp khúc giữa màu xanh rười rượi của cánh đồng” không chỉ gợi ra dáng vẻ cô đơn, lạc lõng mà còn thể hiện khát khao được hòa nhập, được học tập như bao đứa trẻ khác. - Kết đoạn: + Hoàn cảnh của Đức là hoàn cảnh của một đứa trẻ thiệt thòi cả về thể xác lẫn tinh thần: mang khiếm khuyết cơ thể, sống trong sự kỳ thị, thiếu cảm thông của cộng đồng. + Gợi suy nghĩ về trách nhiệm của xã hội trong việc yêu thương, tôn trọng những người có số phận kém may mắn. Hướng dẫn chấm: - Phân tích như đáp án hoặc tương đương đáp án: 1.0 đ - Phân tích gần tương đương như đáp án: 0.75 đ - Phân tích gần tương đương như đáp án nhưng còn sơ sài: 0.5 đ - Phân tích nhưng còn xa với đáp án đáp án: 0.25 đ |
|
d. Diễn đạt: rõ ràng, mạch lạc, dảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản |
|
e. Sáng tạo: Đoạn văn phân tích thuyết phục, thể hiện sự cảm nhận đầy đủ và sâu sắc về hoàn cảnh của nhân vật…. |
Hot: 1000+ Đề thi giữa kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
|
a. Đảm bảo cấu trúc một bài văn nghị luận xã hội |
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: hiện tượng vi phạm chuẩn mực ứng xử văn hóa trong môi trường học đường. Hướng dẫn chấm: Học sinh xác định đúng vấn đề nghị luận – 0.5 điểm Học sinh xác định không đúng vấn đề nghị luận – 0 điểm |
|
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Có thể triển khai theo hướng: 1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận 2. Thân bài: * Giải thích vấn đề nghị luận: - Ứng xử văn hoá học đường: là cách học sinh giao tiếp, hành động, cư xử với thầy cô, bạn bè, nhân viên trong trường theo chuẩn mực đạo đức, tôn trọng, lịch sự và nhân văn. - Vi phạm ứng xử văn hoá học đường: là những hành vi trái với đạo đức, nội quy, làm mất đi nét đẹp của môi trường giáo dục. * Bàn luận: - Biểu hiện: Nói tục, chửi bậy, thiếu lễ phép với thầy cô. Cãi vã, đánh nhau, bắt nạt bạn bè. Vô lễ trong giao tiếp, không chào hỏi, thiếu tôn trọng người khác. Sử dụng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm giáo viên, bạn bè. Thờ ơ, vô cảm trước những hành vi sai trái trong trường học….. -> Những hành vi ấy cho thấy sự xuống cấp về văn hoá ứng xử trong một bộ phận học sinh. - Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như: Nhận thức chưa đúng đắn, thiếu kỹ năng sống, thiếu tự chủ trong hành vi. Bị tác động bởi tâm lý lứa tuổi, muốn thể hiện bản thân. Gia đình buông lỏng quản lý, thiếu gương mẫu, ít quan tâm. …. Ảnh hưởng từ mạng xã hội, phim ảnh bạo lực, ngôn ngữ lệch chuẩn. Môi trường xung quanh còn nhiều tấm gương xấu, lối sống thực dụng….. - Hậu quả của những hành vi vi phạm ứng xử trong trường học:+ Ảnh hưởng đến bản thân học sinh: Làm mất hình ảnh tốt đẹp trong mắt thầy cô, bạn bè và cha mẹ; học tập sa sút, hình thành thói quen cư xử thiếu văn minh, dễ bị cô lập và khó hòa nhập xã hội sau này + Ảnh hưởng đến môi trường học đường: Làm giảm tinh thần đoàn kết, gây xung đột, bạo lực, khiến môi trường học tập trở nên tiêu cực và làm giảm uy tín của nhà trường. + Ảnh hưởng đến gia đình và xã hội: Gia đình chịu tổn thương tinh thần, cha mẹ buồn phiền, thất vọng, thậm chí mâu thuẫn vì con cái. Nếu hiện tượng lan rộng, sẽ hình thành một thế hệ trẻ thiếu chuẩn mực đạo đức, ảnh hưởng đến nền văn hoá và tương lai của đất nước. Xã hội phải tốn nhiều nguồn lực để khắc phục hậu quả, giáo dục lại những người trẻ có hành vi lệch lạc…. Hướng dẫn chấm: Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách để làm rõ vấn đề nghị luận, đảm bảo hợp lý, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật… - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục ( lí lẽ xác đáng, bằng chứng phù hợp, kết hợp giữa lý lẽ và dẫn chứng ):1,25 điểm - Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục ( lí lẽ xác đáng những không có bằng chứng hoặc bằng chứng phù hợp): 0.75- 1.0 điểm - Lập luận chưa không chặt chẽ, thuyết phục ( lí lẽ không xác đáng những không có bằng chứng hoặc bằng chứng không phù hợp): 0.25- 0.5 điểm
|
|
* Đề ra giải pháp khả thi và có tính thuyết phục Có thể theo hướng: + Đối với học sinh: Tự rèn luyện ý thức, biết kiểm soát lời nói và hành vi; ứng xử có văn hoá, tôn trọng thầy cô, đoàn kết với bạn bè. Chủ động tham gia các hoạt động trải nghiệm, câu lạc bộ kỹ năng sống để hoàn thiện nhân cách và học cách ứng xử tích cực, góp phần xây dựng môi trường học đường thân thiện, lành mạnh. + Đối với gia đình: Cha mẹ là tấm gương mẫu mực trong lời nói, hành vi; giáo dục con về đạo đức, cách cư xử, lòng tôn trọng và yêu thương người khác. Quan tâm, lắng nghe, đồng hành cùng con trong quá trình học tập và phát triển tâm lý. + Đối với nhà trường: Đẩy mạnh giáo dục đạo đức, kỹ năng sống và văn hoá ứng xử thông qua tiết học, sinh hoạt dưới cờ, hoạt động trải nghiệm. Kịp thời uốn nắn, tư vấn tâm lý, hỗ trợ tâm lý cho học sinh vi phạm … Xây dựng quy tắc ứng xử rõ ràng, tạo môi trường học đường dân chủ, thân thiện và tôn trọng lẫn nhau. + Đối với xã hội và truyền thông: Lan toả hình ảnh, câu chuyện đẹp về cách ứng xử văn minh; hạn chế nội dung độc hại, phản cảm trên mạng xã hội. Tổ chức các phong trào, chiến dịch tuyên truyền về văn hoá học đường, lối sống đẹp trong giới trẻ. 3. Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học. Hướng dẫn chấm: Học sinh có thể đề xuất một hoặc nhiều giải pháp , trình bày theo nhiều hướng, đảm bảo hợp lý, thuyết phục, phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật… - Giải pháp khả thi, được trình bày thuyết phục: 1.25 điểm - Giải pháp tương đối khả thi, được trình bày thuyết phục: 0.75-1.0 điểm - Giải pháp tương đối khả thi, được trình bày tương đối thuyết phục: 0.25-0.5 điểm |
|
d. Diễn đạt: rõ ràng, mạch lạc, dảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp Tiếng Việt, liên kết văn bản |
|
e. Sáng tạo: bài viết thể hiện sự am hiểu sâu sắc về vấn đề nghị luận |
Lời giải
Học sinh xác định và gọi tên:
- Xác định thành phần biệt lập: Chao ôi
- Gọi tên thành phẩn biệt lập: cảm thán.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.