Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết và sâu sắc với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể, chân phương từ nhiều góc độ trong đời sống. Thứ nhất, âm dương là bản chất của giới tự nhiên. Trong đời sống, dân tộc nào cũng va chạm với các cặp đối lập “đực – cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”…Với người nông dân, họ chú trọng sự sinh sôi, nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất – Trời. Như vậy, Đất được đồng nhất với Mẹ, còn trời được đồng nhất với Cha. Việc hợp nhất của hai cặp “Mẹ - Cha” và “Đất – Trời”chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lý âm dương. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thiết lập nên các cặp đối lập mới trong giới tự nhiên. Từ cặp “Lạnh – Nóng” có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đông lạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương. Về phương hướng, phương Bắc lạnh thuộc âm, phương Nam nóng thuộc dương. Về thời gian, ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngày nóng thuộc dương. Hay là, đêm thì tối nên màu đêm thuộc âm, ngày thì đỏ nên màu đỏ thuộc dương. Cái hay, cái đẹp của triết lý âm dương nằm ở quy luật thành tố: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm. Nó còn được phản ánh qua quy luật quan hệ: Âm dương luôn gắn bó mật thiết và chuyển hóa cho nhau. Hai quy luật này góp phần không nhỏ vào việc đánh giá, nhìn nhận và khám phá giới tự nhiên từ góc độ bản chất. Thứ hai, những biểu hiện âm dương trong xã hội xưa và nay: Về mặt tư duy, dân gian vẫn nhận thức theo kiểu: “Chim sa, cá nhảy chớ mừng; nhện sa, xà đón xin đừng có lo”. Đây là cách diễn đạt quy luật “trong âm có dương” và “trong âm có dương”. Ngày xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duy theo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: “Sướng lắm khổ nhiều” hay “Trèo cao ngã đau”. Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật “Âm dương chuyển hóa”. Ngày nay, lối tư duy âm dương này được người Việt vận dụng và kết hợp khéo léo trong đời sống văn hóa. Điều này được phản ánh qua triết lý sống quân bình: Coi trọng, đề cao sự hài hòa âm dương trong cơ thể và sự hài hòa trong giới tự nhiên. Đặc trưng quân bình các yếu tố đời sống tạo ra khả năng thích nghi cao trước mọi biến cố, hoàn cảnh của dân tộc Việt từ ngàn đời. Về mặt đời sống, triết lý âm dương được biểu hiện khá rõ từ ba nhu cầu cơ bản nhất: Ăn, mặc và ở. Với nhu cầu ăn, người Việt nhấn mạnh tính cộng đồng, tính mực thước truyền thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việc ăn tổng hợp, ăn chung; còn tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm dương. Nó đòi hỏi người ăn không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhiều hay quá ít, không ăn hết hay ăn còn. Đây được xem là lối giao tiếp tế nhị, ý tứ khác hẳn tính cách cực đoan, lối giao tiếp trực khởi của người phương Tây: Khách phải ăn kỳ sạch để tỏ lòng biết ơn chủ nhà. Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ăn thể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước mắm. Nồi cơm ở đầu mâm và chén nước mắm ở giữa mâm là biểu tượng cho cái đơn giản mà thiết yếu: Cơm gạo là tinh hoa của đất, mắm chiết từ cá là tinh hoa của nước – chúng giống như hành Thủy và hành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ Hành.
(Phan Thị Anh Thư, Triết lí âm dương trong đời sống văn hoá Việt, Theo Võ Quê)
Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.
Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết và sâu sắc với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nó được biểu hiện cụ thể, chân phương từ nhiều góc độ trong đời sống. Thứ nhất, âm dương là bản chất của giới tự nhiên. Trong đời sống, dân tộc nào cũng va chạm với các cặp đối lập “đực – cái”, “nóng – lạnh”, “cao – thấp”…Với người nông dân, họ chú trọng sự sinh sôi, nảy nở của hoa màu và con người với hai cặp đối lập Mẹ - Cha và Đất – Trời. Như vậy, Đất được đồng nhất với Mẹ, còn trời được đồng nhất với Cha. Việc hợp nhất của hai cặp “Mẹ - Cha” và “Đất – Trời”chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lý âm dương. Đây là yếu tố nền tảng góp phần thiết lập nên các cặp đối lập mới trong giới tự nhiên. Từ cặp “Lạnh – Nóng” có thể suy ra: Về thời tiết thì mùa đông lạnh thuộc âm, mùa hè nóng thuộc dương. Về phương hướng, phương Bắc lạnh thuộc âm, phương Nam nóng thuộc dương. Về thời gian, ban đêm lạnh thuộc âm, ban ngày nóng thuộc dương. Hay là, đêm thì tối nên màu đêm thuộc âm, ngày thì đỏ nên màu đỏ thuộc dương. Cái hay, cái đẹp của triết lý âm dương nằm ở quy luật thành tố: Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương, trong dương có âm. Nó còn được phản ánh qua quy luật quan hệ: Âm dương luôn gắn bó mật thiết và chuyển hóa cho nhau. Hai quy luật này góp phần không nhỏ vào việc đánh giá, nhìn nhận và khám phá giới tự nhiên từ góc độ bản chất. Thứ hai, những biểu hiện âm dương trong xã hội xưa và nay: Về mặt tư duy, dân gian vẫn nhận thức theo kiểu: “Chim sa, cá nhảy chớ mừng; nhện sa, xà đón xin đừng có lo”. Đây là cách diễn đạt quy luật “trong âm có dương” và “trong âm có dương”. Ngày xưa, ông cha ta còn hình thành lối tư duy theo quan hệ nhân quả, chẳng hạn: “Sướng lắm khổ nhiều” hay “Trèo cao ngã đau”. Đây là cách diễn đạt kín đáo của quy luật “Âm dương chuyển hóa”. Ngày nay, lối tư duy âm dương này được người Việt vận dụng và kết hợp khéo léo trong đời sống văn hóa. Điều này được phản ánh qua triết lý sống quân bình: Coi trọng, đề cao sự hài hòa âm dương trong cơ thể và sự hài hòa trong giới tự nhiên. Đặc trưng quân bình các yếu tố đời sống tạo ra khả năng thích nghi cao trước mọi biến cố, hoàn cảnh của dân tộc Việt từ ngàn đời. Về mặt đời sống, triết lý âm dương được biểu hiện khá rõ từ ba nhu cầu cơ bản nhất: Ăn, mặc và ở. Với nhu cầu ăn, người Việt nhấn mạnh tính cộng đồng, tính mực thước truyền thống. Trong đó, tính cộng đồng được phản ánh từ việc ăn tổng hợp, ăn chung; còn tính mực thước là biểu hiện của khuynh hướng quân bình âm dương. Nó đòi hỏi người ăn không ăn quá nhanh hay quá chậm, không ăn quá nhiều hay quá ít, không ăn hết hay ăn còn. Đây được xem là lối giao tiếp tế nhị, ý tứ khác hẳn tính cách cực đoan, lối giao tiếp trực khởi của người phương Tây: Khách phải ăn kỳ sạch để tỏ lòng biết ơn chủ nhà. Tính cộng đồng và tính mực thước trong bữa ăn thể hiện tập trung qua nồi cơm và chén nước mắm. Nồi cơm ở đầu mâm và chén nước mắm ở giữa mâm là biểu tượng cho cái đơn giản mà thiết yếu: Cơm gạo là tinh hoa của đất, mắm chiết từ cá là tinh hoa của nước – chúng giống như hành Thủy và hành Thổ là cái khởi đầu và cái trung tâm trong Ngũ Hành.
(Phan Thị Anh Thư, Triết lí âm dương trong đời sống văn hoá Việt, Theo Võ Quê)
Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.
Quảng cáo
Trả lời:
Đáp án đúng là C
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Dạng bài đọc hiểu văn bản - Câu hỏi kết hợp
Lời giải
Dựa vào câu chủ đề ở đầu văn bản: “Ngày xưa cũng như ngày nay, thuyết tương đối âm dương vẫn gắn bó mật thiết và sâu sắc với văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam.”
- Đáp án A sai vì những biểu hiện không chỉ được nhắc đến trong đời sống văn hoá, mà cả “bản chất của giới tự nhiên”.
- Đáp án B sai vì những “ứng dụng” khác những “biểu hiện".
- Đáp án D sai vì các quy luật chỉ là một phần được nhắc đến trong đoạn trích.
=> Đáp án C đúng.
Câu hỏi cùng đoạn
Câu 2:
Ý nghĩa của việc đồng nhất cặp Mẹ - Cha với Đất - Trời là gì?
Ý nghĩa của việc đồng nhất cặp Mẹ - Cha với Đất - Trời là gì?
Đáp án đúng là D
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Dạng bài đọc hiểu văn bản - Câu hỏi kết hợp
Lời giải
Trong đoạn trích có câu: “Việc hợp nhất của hai cặp “Mẹ - Cha” và “Đất – Trời”chính là sự khái quát đầu tiên trên con đường dẫn tới triết lý âm dương.”
- Đáp án A sai vì văn bản không đề cập đến sự bình đẳng giữa con người và tự nhiên.
- Đáp án B sai vì nội dung này không xuất hiện trong văn bản.
- Đáp án C sai vì việc hợp nhất này không liên quan đến quy luật “trong dương có âm” và “trong âm có dương”.
=> Đáp án D đúng.
Câu 3:
Câu thành ngữ nào phản ánh quan niệm “âm dương chuyển hoá” theo nội dung đoạn trích trên?
Câu thành ngữ nào phản ánh quan niệm “âm dương chuyển hoá” theo nội dung đoạn trích trên?
B. Có công mài sắt, có ngày nên kim
Đáp án đúng là A
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung của văn bản.
Dạng bài đọc hiểu văn bản - Câu hỏi kết hợp
Lời giải
- “Khổ tận cam lai” nghĩa là sau nỗi khổ (âm) sẽ đến hạnh phúc, ngọt ngào (dương), thể hiện sự chuyển hóa lẫn nhau của hai thái cực.
- “Có công mài sắt, có ngày nên kim” nghĩa là kiên trì nỗ lực sẽ dẫn đến thành công, ám chỉ kết quả tốt đẹp sẽ đến nếu cố gắng. => quan hệ nhân quả chứ không phải “âm dương chuyển hoá”.
- “Tham thì thâm” nghĩa là “Sự tham lam sẽ dẫn đến hậu quả không tốt, một lời cảnh báo về lòng tham” => quan hệ nhân quả chứ không phải “âm dương chuyển hoá”.
- “Khôn đâu đến trẻ, khỏe đâu đến già” nghĩa là “Sự chín chắn và sức khỏe phụ thuộc vào tuổi tác và hành vi từng giai đoạn trong đời.” => quan hệ nhân quả chứ không phải “âm dương chuyển hoá”.
=> Đáp án A đúng.
Câu 4:
Từ “quân bình” trong cụm từ “Đặc trưng quân bình” KHÔNG đồng nghĩa với từ nào dưới đây?
Đáp án đúng là D
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản, nghĩa của từ.
Dạng bài đọc hiểu văn bản - Câu hỏi kết hợp
Lời giải
Trong văn bản có đề cập “Điều này được phản ánh qua triết lý sống quân bình: Coi trọng, đề cao sự hài hòa âm dương trong cơ thể và sự hài hòa trong giới tự nhiên.”
=> Từ “quân bình” có thể hiểu là sự cân đối, hài hoà.
Trong khi đó, “điều hoà” có chừng mực và đều đặn về mức độ, cường độ (nói về hiện tượng tự nhiên)
=> Đáp án D đúng
Câu 5:
Dự đoán nội dung đoạn tiếp theo sau đoạn trích?
Đáp án đúng là A
Phương pháp giải
Căn cứ vào nội dung văn bản.
Dạng bài đọc hiểu văn bản - Câu hỏi kết hợp
Lời giải
- Dựa vào nội dung đoạn trích, ta có thể thấy: đoạn trích đang đề cập đến tính cộng đồng và tính mực thước trong văn hoá ẩm thực của người Việt.
- Đáp án B sai vì đây không phải nội dung chính được hướng đến. Đoạn văn bản chỉ đang nhắc đến yếu tố Thuỷ và Thổ.
Đáp án C, D sai vì đoạn trích chưa bàn đến triết lý âm dương được biểu hiện ở nhu cầu mặc và ở nên không thể chuyển sang nền văn hoá khác hay lĩnh vực khác (văn học).
=> Đáp án A đúng.
Hot: 1000+ Đề thi giữa kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội 2025 (Tập 1) ( 39.000₫ )
- Tuyển tập 15 đề thi Đánh giá tư duy Đại học Bách Khoa Hà Nội 2025 (Tập 1) ( 39.000₫ )
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (2 cuốn) ( 140.000₫ )
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội, TP Hồ Chí Minh (2 cuốn) ( 150.000₫ )
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Đáp án đúng là C
Phương pháp giải
Tìm giá trị lớn nhất của hàm số.
Lời giải

Ta thấy \({v_A}\left( 0 \right) = 0,{v_A}\left( {20} \right) = \frac{{40}}{9},{v_A}\left( {10} \right) = 6\). Vậy 
Câu 2
Lời giải
Đáp án đúng là A
Phương pháp giải
Tìm đại từ thay thế
Lời giải
Câu hỏi: Từ “they” ở đoạn văn số 3 thay thế cho:
A. Những vị phụ huynh
B. Những cô con gái
C. Gia đình nhà trai
D. Các cộng đồng
Câu chứa “they” là: “Parents marry their daughters as soon as possible because the money they have to pay to the groom’s family is higher if their daughter is older.” Chủ ngữ chính của câu là “Parents”, động từ chính là “marry” (kết hôn, gả con). Cụm “the money they have to pay to the groom’s family” có đại từ “they”, chỉ người phải trả tiền.
=> “They” thay thế cho “parents”.
Tạm dịch: Cha mẹ gả con gái càng sớm càng tốt vì số tiền họ phải trả cho gia đình nhà trai sẽ cao hơn nếu con gái họ lớn tuổi hơn.
Câu 3
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 5
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.