Đọc đoạn thông tin sau và trả lời câu hỏi
XÀ PHÒNG VÀ CHẤT GIẶT RỬA TỔNG HỢP
Xà phòng là hỗn hợp các muối sodium hoặc potassium của acid béo và một số chất phụ gia. Các acid béo ở đây thường là acid no như palmitic acid, stearic acid. Chất phụ gia được dùng thường là chất độn là tăng độ cứng dễ đúc thành bánh, chất tạo màu và chất tạo hương. Một số loại xà phòng được cho thêm chất dưỡng da, chất diệt khuẩn,…
Muối của acid béo (có trong xà phòng) được cấu tạo từ một phần ưa nước nối với một phần kị nước.
- Phần ưa nước (tan được trong nước) là nhóm carboxylate −COO.
- Phần kị nước (không tan trong nước nhưng tan trong dầu, mỡ) là các gốc hydrocarbon mạch dài, như C17H35−, C15H31−,...
Cơ chế giặt rửa của xà phòng như sau
- Sợi vải có dính vết bẩn dầu, mỡ được ngâm trong môi trường nước, do sức căng bề mặt của nước lớn nên nước không thể tách hoặc hòa tan vết dầu, mỡ này.
- Khi cho xà phòng vào nước, tạo thành dung dịch có sức căng bề mặt nhỏ, giúp xà phòng ngấm vào các sợi vải. Phần kị nước (chẳng hạn gốc C17H35− trong phân tử sodium stearate) quay về phía dầu mỡ và thâm nhập vào vết dầu, mỡ; còn phần ưa nước (nhóm Math) lại có xu hướng quay ra ngoài và thâm nhập vào nước.
- Kết quả là vết dầu, mỡ bẩn bị phân chia thành các hạt rất nhỏ phân tán vào nước. Nhờ đó chúng bị rửa trôi khỏi bề mặt của vật cần giặt rửa.
Trong công nghiệp, để sản xuất xà phòng, người ta thường đun chất béo (mỡ động vật, dầu thực vật) với dung dịch kiềm đặc ở nhiệt độ cao. Sau phản ứng, hỗn hợp muối của các acid béo được tách ra bằng cách cho dung dịch muối ăn bão hòa vào hỗn hợp sản phẩm. Các muối của acid béo được tách ra bằng cách cho dung dịch muối ăn bão hòa vào hỗn hợp sản phẩm. Các muối của acid béo nổi lên, được lấy ra, sau đó được trộn với các phụ gia để làm xà phòng. Phần dung dịch còn lại đem tách và thu hồi glycerol.
Ngày nay một phần xà phòng được sản xuất từ các alkane mạch dài lấy từ công nghiệp chế biến dầu mỏ theo sơ đồ sau:

Đặc điểm chung của chất giặt rửa là phân tử luôn có phần ưa nước và phần kị nước giống như các muối của acid béo trong xà phòng. Các chất giặt rửa này có thể là chất có trong tự nhiên hoặc là chất tổng hợp. Chất giặt rửa tự nhiên là chất giặt rửa có nguồn gốc từ thiên nhiên. Chất giặt rửa tổng hợp là những chất giặt rửa do con người điều chế.
- Thành phần chính của chất giặt rửa tổng hợp điển hình là các muối:
hoặc
- Chất giặt rửa tổng hợp được sản xuất từ parafin dầu mỏ, chẳng hạn:

Trả lời cho các câu 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 dưới đây:
Sắp xếp các bước điều chế xà phòng theo đúng trình tự trong công nghiệp:
1. Đun nóng chất béo với dung dịch kiềm
2. Tách lấy muối sodium của acid béo
3. Thu hồi và làm khô sản phẩm xà phòng
4. Glycerol được tách ra
Đọc đoạn thông tin sau và trả lời câu hỏi
XÀ PHÒNG VÀ CHẤT GIẶT RỬA TỔNG HỢP
Xà phòng là hỗn hợp các muối sodium hoặc potassium của acid béo và một số chất phụ gia. Các acid béo ở đây thường là acid no như palmitic acid, stearic acid. Chất phụ gia được dùng thường là chất độn là tăng độ cứng dễ đúc thành bánh, chất tạo màu và chất tạo hương. Một số loại xà phòng được cho thêm chất dưỡng da, chất diệt khuẩn,…
Muối của acid béo (có trong xà phòng) được cấu tạo từ một phần ưa nước nối với một phần kị nước.
- Phần ưa nước (tan được trong nước) là nhóm carboxylate −COO.
- Phần kị nước (không tan trong nước nhưng tan trong dầu, mỡ) là các gốc hydrocarbon mạch dài, như C17H35−, C15H31−,...
Cơ chế giặt rửa của xà phòng như sau
- Sợi vải có dính vết bẩn dầu, mỡ được ngâm trong môi trường nước, do sức căng bề mặt của nước lớn nên nước không thể tách hoặc hòa tan vết dầu, mỡ này.
- Khi cho xà phòng vào nước, tạo thành dung dịch có sức căng bề mặt nhỏ, giúp xà phòng ngấm vào các sợi vải. Phần kị nước (chẳng hạn gốc C17H35− trong phân tử sodium stearate) quay về phía dầu mỡ và thâm nhập vào vết dầu, mỡ; còn phần ưa nước (nhóm Math) lại có xu hướng quay ra ngoài và thâm nhập vào nước.
- Kết quả là vết dầu, mỡ bẩn bị phân chia thành các hạt rất nhỏ phân tán vào nước. Nhờ đó chúng bị rửa trôi khỏi bề mặt của vật cần giặt rửa.
Trong công nghiệp, để sản xuất xà phòng, người ta thường đun chất béo (mỡ động vật, dầu thực vật) với dung dịch kiềm đặc ở nhiệt độ cao. Sau phản ứng, hỗn hợp muối của các acid béo được tách ra bằng cách cho dung dịch muối ăn bão hòa vào hỗn hợp sản phẩm. Các muối của acid béo được tách ra bằng cách cho dung dịch muối ăn bão hòa vào hỗn hợp sản phẩm. Các muối của acid béo nổi lên, được lấy ra, sau đó được trộn với các phụ gia để làm xà phòng. Phần dung dịch còn lại đem tách và thu hồi glycerol.
Ngày nay một phần xà phòng được sản xuất từ các alkane mạch dài lấy từ công nghiệp chế biến dầu mỏ theo sơ đồ sau:

Đặc điểm chung của chất giặt rửa là phân tử luôn có phần ưa nước và phần kị nước giống như các muối của acid béo trong xà phòng. Các chất giặt rửa này có thể là chất có trong tự nhiên hoặc là chất tổng hợp. Chất giặt rửa tự nhiên là chất giặt rửa có nguồn gốc từ thiên nhiên. Chất giặt rửa tổng hợp là những chất giặt rửa do con người điều chế.
- Thành phần chính của chất giặt rửa tổng hợp điển hình là các muối:
hoặc
- Chất giặt rửa tổng hợp được sản xuất từ parafin dầu mỏ, chẳng hạn:

Trả lời cho các câu 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 dưới đây:
Sắp xếp các bước điều chế xà phòng theo đúng trình tự trong công nghiệp:
1. Đun nóng chất béo với dung dịch kiềm
2. Tách lấy muối sodium của acid béo
3. Thu hồi và làm khô sản phẩm xà phòng
4. Glycerol được tách ra
Quảng cáo
Trả lời:
Đáp án:
Phương pháp giải: Dựa vào quy trình điều chế xà phòng được cung cấp ở bài đọc.
Giải chi tiết:
Các bước điều chế xà phòng trong công nghiệp.
Bước 1: Đun nóng chất béo với dung dịch kiềm NaOH/KOH → phản ứng xà phòng hóa.
Bước 2: Phản ứng tạo glycerol và muối sodium của acid béo, glycerol tách ra khỏi hỗn hợp.
Bước 3: Tách muối sodium của acid béo (xà phòng) ra khỏi dung dịch.
Bước 4: Thu hồi, ép khuôn, làm khô để thành sản phẩm xà phòng rắn.
Đáp án cần chọn là: 1-4-2-3
Câu hỏi cùng đoạn
Câu 2:
Nhận xét dưới đây là đúng hay sai?
Nguyên nhân chính khiến cho không thể chỉ dùng nước làm sạch vết dầu mỡ bám trên quần áo là vì dầu mỡ không tan được trong nước và nước không làm tách vết dầu mỡ ra khỏi quần áo do sức căng bề mặt lớn.
Nhận xét dưới đây là đúng hay sai?
Nguyên nhân chính khiến cho không thể chỉ dùng nước làm sạch vết dầu mỡ bám trên quần áo là vì dầu mỡ không tan được trong nước và nước không làm tách vết dầu mỡ ra khỏi quần áo do sức căng bề mặt lớn.
Giải chi tiết:
Dầu mỡ không tan trong nước.
Do sức căng bề mặt của nước lớn nên nước không thể tách hoặc hòa tan vết dầu mỡ khỏi sợi vải.
Câu 3:
Thành phần chính của xà phòng có thể gồm
Đáp án đúng là: B; C; D; E
Giải chi tiết:
Thành phần chính của xà phòng có thể gồm:
- Muối potassium hoặc sodium của acid béo.
- Glycerol.
- Chất dưỡng ẩm.
- Chất tăng độ cứng.
Câu 4:
Các nhận định dưới đây là đúng hay sai?
Các nhận định dưới đây là đúng hay sai?
Đáp án cần chọn là: S; S; Đ; S
Giải chi tiết:
a) Sai: Phần ưa nước là nhóm carboxylate -COO-, đây là phần phân cực (có tương tác với nước), không phải phần không phân cực.
b) Sai: NaCl bão hòa có tác dụng làm giảm độ tan của muối acid béo, khiến chúng nổi lên để dễ dàng tách ra, không phải ngăn phản ứng thủy phân ngược.
c) Đúng: Phản ứng giữa chất béo và kiềm đặc ở nhiệt độ cao được gọi là phản ứng xà phòng hóa.
d) Sai: Trong nước cứng (Ca2+, Mg2+ ), các ion này sẽ phản ứng với muối acid béo tạo ra các kết tủa không tan bám vào vải.
Câu 5:
Cho các từ: dầu mỏ, alkane, giống nhau, khác nhau. Điền từ thích hợp vào chỗ trống:
- Quá trình sản xuất xà phòng trong công nghiệp và chất giặt rửa tổng hợp đều có điểm bắt nguồn chung là từ _______
- Bản chất hóa học của xà phòng và chất giặt rửa là __________
Đáp án đúng là: dầu mỏ; khác nhau
Giải chi tiết:
· Quá trình sản xuất xà phòng trong công nghiệp và chất giặt rửa tổng hợp đều có điểm bắt nguồn chung là từ dầu mỏ.
· Bản chất hóa học của xà phòng và chất giặt rửa là khác nhau.
Đáp án cần chọn là: dầu mỏ; khác nhau
Câu 6:
Vì sao không nên sử dụng xà phòng với nước cứng?
Vì sao không nên sử dụng xà phòng với nước cứng?
Giải chi tiết:
Khi dùng xà phòng trong nước cứng, các muối sodium/potassium của acid béo sẽ phản ứng với các ion Ca2+, Mg2+ có trong nước.
- Phản ứng này tạo ra các muối calcium hoặc magnesium của acid béo không tan (kết tủa).
- Các kết tủa này bám vào bề mặt vải, gây cứng vải và làm xỉn màu quần áo.
Câu 7:
Chất nào ít gây ô nhiễm môi trường nhất?
Giải chi tiết:
Xà phòng và chất giặt rửa tổng hợp thường chứa các gốc hydrocarbon dài, nếu khó bị vi sinh vật phân hủy sẽ gây ô nhiễm nguồn nước.
Chất giặt rửa tự nhiên (có nguồn gốc sẵn có từ thiên nhiên) thường dễ dàng bị phân hủy sinh học nhất và thân thiện với môi trường.
Hot: 1000+ Đề thi giữa kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh (2 cuốn) ( 140.000₫ )
- Tuyển tập 15 đề thi Đánh giá tư duy Đại học Bách Khoa Hà Nội 2025 (Tập 1) ( 39.000₫ )
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội 2025 (Tập 1) ( 39.000₫ )
- Tuyển tập 30 đề thi đánh giá năng lực Đại học Quốc gia Hà Nội, TP Hồ Chí Minh (2 cuốn) ( 150.000₫ )
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Phương pháp:
· Xác định trục thời gian: đoạn [1] (trước khi có gia đình) → đoạn [5] (sau khi có gia đình).
· So sánh sự thay đổi trong hệ giá trị sống của Hộ.
· Không chọn phương án cực đoan (hoàn toàn buông bỏ / hoàn toàn chạy theo vật chất).
Đáp án: A
Giải chi tiết
Đoạn [1], Hộ xem nghệ thuật là tất cả, “ngoài nghệ thuật không còn gì đáng quan tâm”.
Đến đoạn [5], anh ý thức về trách nhiệm gia đình và quan niệm lại thế nào là “kẻ mạnh”.
Các phương án B, C, D đều tuyệt đối hóa sự thay đổi nên không chính xác.
Câu 2
Lời giải
Đáp án cần chọn là: Đ; S; Đ; S
Giải chi tiết:
a) Đúng: Thí nghiệm tạo ester chứa 5 gốc CH3COO- và phản ứng với Cu(OH)2 chứng minh glucose có 5 nhóm -OH. Cấu tạo mạch hở của glucose thực tế có 5 nhóm -OH kề nhau.
b) Sai: Glucose là hợp chất tạp chức, mạch hở có 1 nhóm -CHO và 5 nhóm -OH. Công thức viết gọn đúng là CH2OH[CHOH]4CHO. Công thức trong câu hỏi là của một polyalcohol khác.
c) Đúng: Thí nghiệm glucose có phản ứng tráng bạc và làm mất màu nước bromine chứng minh glucose có tính chất của aldehyde.
d) Sai: Glucose có 5 nhóm -OH có khả năng phản ứng với Na, do đó 1 mol glucose phản ứng tối đa với 5 mol Na, không phải 6 mol.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.