Câu hỏi:

19/04/2026 14 Lưu

(6.0 điểm):

LÀNG CÁT

Bước ra đã chạm cát rồi

nhói lòng tôi trước đất trời trắng phau

quanh năm bão dập trên đầu

nội ơi hạt thóc tìm đâu đất trồng?

 

Tôi qua bao những cánh đồng

chẳng đâu ruộng thụt sâu trong cát lầy

cỏn con một vạt lúa gầy

như mụn vá nội đắp ngày đói xưa ...

 

Nội lam lũ suốt bốn mùa

mà sao hạt thóc trong bồ vẫn vơi

nội nuôi nhà chục miệng người

sống bằng những hạt gạo thời chiêm khê!

 

Nghẹn ngào cát trắng đồng.quê

thơ tôi xưa ngại viết về hạt cơm

còn bao kẻ nữa vô ơn

lớn nhờ máu-những-cọng-rơm đất nghèo!

Tôi cầm nhụm thóc nâng niu

có trong tay nỗi gieo neo tháng ngày

nội đơm cả những rủi may

vào trong mỗi chén cơm đầy tôi ăn

 

Nghĩ thương đời nội nhọc nhằn

giọt-mồ-hôi-hạt-gạo-lần-lội-qua

bao điều tiềm ẩn sâu xa

cứ tìm trong vỏ trấu là gặp thôi

 

Lúa đồng quê cát, người ơi!

 

Làng Hà Thượng- Huế 1986

 

(Trương Nam Hương2, Viết tặng những mùa xưa, Nxb Thanh niên, 1999, tr.76-77)

 

Cảm nhân bài thơ Làng cát của Trương Nam Hương, từ đó em hãy bàn luận ngắn gọn về ý kiến: “Cái hồn của thơ không phải là chữ, mà là cái vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ. Nó là tinh chất của sự sống thi sĩ đã trút vào và làm tràn đầy mỗi chữ. Mà tinh chất của sự sống người chính là xúc cảm, suy cảm.”

 (Chu Văn Sơn, Thơ, điệu hồn và cấu trúc, Nxb Hội Nhà văn, 2023, tr.10)

 

1 Thời chiêm khê: lúa vụ chiêm được gieo cấy vào mùa lạnh (khoảng tháng 11 âm lịch) và thu hoạch vào đầu mùa nóng (khoảng tháng 5 âm lịch). Đây là khoảng thời gian hanh khô, thiếu nước tưới tiêu (do trước đây nông nghiệp phụ thuộc vào nước mưa) dẫn đến tình trạng lúa khó bén rễ hoặc “khê”- cháy khô.

2 Trương Nam Hương sinh năm 1963, quê quán ở Huế. Hiện ông sống và viết tại TP. Hồ Chí Minh, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thơ Trương Nam Hương man mác nỗi tha hương và tình yêu dành cho những người thân yêu ruột thit. Diễn đạt tình cảm một cách trong sáng, chân thành, tự nhiên ... là cách trau chuốt của thơ ông.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

* Yêu cầu chung:

- Hiểu yêu cầu đề, biết huy động kiến thức lí luận về thơ, nắm được cách làm bài văn cảm thụ thơ.

- Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.

* Yêu cầu cụ thể:

HS có thể triển khai nội dung bài văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung chính sau:

Câu

Nội dung

Điểm

2

1. Cảm thụ bài thơ Làng cát

a. Nội dung

* Hình ảnh làng cát:

Không gian sống khắc nghiệt: cát trắng mênh mông, cát lầy như muốn

nuốt chửng mọi nỗ lực của con người; mưa bão quanh năm; không có đất trồng lúa, thiếu vắng sự sống “một vạt lúa gầy”.

* Hình tượng “nội”:

- Vất vả, lam lũ quanh năm, chịu thương chịu khó với đức hi sinh lớn lao để nuôi cả gia đình hơn chục miệng ăn.

- Nuôi (đơm cơm) cả tôi - “nhà thơ” bằng chính những nhọc nhằn, mồ

hôi, hi vọng và rủi ro của cuộc đời mình.

* Cảm xúc của nhân vật trữ tình “tôi”:

- Hối hận về sự vô ơn, vô tình của chính mình khi chỉ mải chạy theo những thứ cao siêu, xa vời mà quên đi gốc rễ của sự sống, của nghệ thuật là hiện thực cuộc sống đầy đắng cay mà chính mình và những người thân của mình đã từng trải qua.

- Đau đớn, nghẹn ngào trước hình ảnh quê hương nghèo khó; Thương,

xót xa hình ảnh nội vất vả;

- Biết ơn, trân trọng quê hương, biết ơn bà.

b. Nghệ thuật

- Thể thơ lục bát nhưng được trình bày theo cách sáng tạo, chỉ viết hoa

chữ đầu tiên của mỗi khổ.

- Giọng thơ xót xa, ân hận, nghẹn ngào.

- Ngôn ngữ giàu sức gợi: nhói, trắng phau, bão dập, gieo neo, lần lội…

- Biện pháp tu từ đặc sắc: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ,...

- Hình thức trình bày ấn tượng, tạo hiệu quả biểu đạt: sử dụng gạch nối các chữ trong câu thơ.

3,5

 

2. Bàn luận ngắn gọn về ý kiến của Chu Văn Sơn

- Giải thích ý kiến: HS giải mã ý nghĩa của các từ, cụm từ trong nhận định (Cái hồn của thơ, vầng sáng tỏ mờ bao quanh mỗi chữ; tinh chất của sự sống; xúc cảm, suy cảm) để rút ra vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp của ngôn từ thơ là sự kết tinh từ tinh chất của sự sống và tình cảm, cảm xúc của nhà thơ.

- Phân tích, chứng minh:

+ Thơ ca bắt nguồn từ hiện thực đời sống nhưng hiện thực trong thơ chính là tinh chất của sự sống. Trong Làng cát, đời sống cơ cực ở vùng quê nghèo khó, lam lũ với hoàn cảnh sống khắc nghiệt là hiện thực cuộc sống đã được tinh lọc, chưng cất.

+ Sức hấp dẫn của một bài thơ nằm ở chỗ ngôn từ thơ có khả năng gợi lên cảm xúc, tình cảm, tư tưởng của nhà thơ, nhằm truyền tải kinh nghiệm sống đến bạn đọc. Bài thơ Làng cát là tâm sự đầy ân hận, tự trách của nhân vật trữ tình khi đã vô tâm với quê hương, với người bà

của mình.

+ Xúc cảm, suy cảm của nhà thơ chính là tinh chất của sự sống, được kết tinh nơi ngôn từ. Và qua ngôn từ thơ giàu sức gợi, những “vầng sáng tỏ mờ” nơi mỗi chữ, tình cảm chân thành của nhà thơ sẽ chạm đến và đánh thức cảm xúc, suy nghĩ nơi người đọc. Tác phẩm Làng cát đã thức tỉnh và nhắc nhở người đọc: hãy luôn trân trọng, biết ơn quê hương, quá khứ, nguồn cội đã bao bọc, chở che và nuôi dưỡng chúng ta.  

- Mở rộng:

+ Khi nói rằng “hồn thơ” không nằm ở chữ mà ở cảm xúc, suy tư của nhà thơ, thực chất nhà phê bình Chu Văn Sơn muốn đề cao ý nghĩa của tình cảm, tư tưởng nhưng không vì thế xem nhẹ vai trò của việc tổ chức, chọn lọc ngôn từ.

+ Bài học cho người nghệ sĩ: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”.

+ Bài học tiếp nhận cho người đọc: bồi đắp tâm hồn để đến với thơ bằng sự xúc động và đón nhận, đối thoại những tình cảm, xúc cảm của nhà thơ.

2,5

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

* Yêu cầu chung:

- Hiểu yêu cầu đề bài, nắm được cách làm bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống, huy động được những kiến thức về đời sống xã hội, trải nghiệm của bản thân và khả năng bày tỏ suy nghĩ của mình để làm bài.

- Bố cục rõ ràng, trình bày mạch lạc, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi chảy. Văn viết có cảm xúc, không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả thông thường.

- Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ và căn cứ xác đáng; được tự do bày tỏ suy nghĩ, quan điểm, thái độ của mình.

* Yêu cầu cụ thể:

HS có thể triển khai nội dung bài văn theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các nội dung chính sau:

Câu

Nội dung

Điểm

1

1. Giải thích:

HS giải thích ý nghĩa của các từ, cụm từ trong văn bản (Hoa mùa thu; cuồng phong ngày hạ, lao đao trước gió; bí mật của riêng mình) để rút ra bài học cuộc sống: Đi qua nghịch cảnh mới giúp con người trưởng thành và tạo được giá trị riêng, bản sắc riêng của mình.

0,75

 

2. Phân tích, chứng minh:

- Những giông bão, khó khăn trong cuộc đời là điều hiển nhiên, không ai có thể né tránh được.

- Khi đối diện với những “cuồng phong”, bản lĩnh, ý chí, nghị lực mới được trui rèn; nhiều tiềm năng mới sẽ được khai phá. Thử thách giúp con người xây dựng nền tảng vững vàng và bồi đắp tư duy.

- Giá trị ta có được sau khi vượt qua bão giông là giá trị bền lâu, vĩnh viễn, có sức hấp dẫn riêng vì đó là thành quả kết tinh từ sự kiên cường, từ trải nghiệm của riêng ta, không lẫn với ai được.

- HS lấy những dẫn chứng phù hợp để chứng minh.

2,5

 

3. Mở rộng:

- Không phải cứ gặp bão thì đồng nghĩa với việc nhất định sẽ nở hoa. Quan trọng là thái độ đón nhận nghịch cảnh. Nếu thiếu nội lực và ý chí, “cuồng phong” sẽ quật ngã và vùi lấp bất kì ai.

- Phê phán lối sống “hoa trong nhà kính”: ngại va chạm, sợ thử thách, sống một cuộc đời nhạt nhòa, thiếu bản sắc.

- Mỗi người có một “mùa” riêng để rực rỡ. Đừng sốt ruột khi thấy người khác “nở hoa sớm”, hãy tập trung vượt qua “ngày hạ” của chính mình.

- Chấp nhận gió bão như là những điều hiển nhiên mình phải đương đầu, rèn luyện rễ sâu (đạo đức, trí tuệ) để bản thân đứng vững được trước mọi cuồng phong, sóng gió cuộc đời.

0,75