Câu hỏi:

19/04/2026 5 Lưu

Nghị luận văn học (12,0 điểm)

“Nghệ thuật chẳng là gì nếu không có thực tại, nhưng không có nghệ thuật thì thực tại, cũng chẳng có bao nhiêu giá trị”. 

(Albert Camus - Văn nghệ sĩ với hiện đại - Những bậc thầy văn chương thế giới, tư tưởng và quan niệm, NXB Văn học, 1995, tr.58)

      Bằng trải nghiệm văn học, anh/chị hãy bàn luận ý kiến trên.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

 

 

 

 

 

 

 

 

2

(12,0 điểm)

1

Hình thức, kĩ năng

1,0

Đáp ứng yêu cầu của bài văn nghị luận văn học.

Trình bày vấn đề một cách khoa học, hấp dẫn.

 

2

Nội dung

11,0

2.1

Giải thích

1,5

 

Giải thích từ ngữ:

- Nghệ thuật: ở đây hiểu là văn chương, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ.

- thực tại: tất cả những gì tồn tại xung quanh chúng ta.

- Nghệ thuật chẳng là gì nếu không có thực tại: văn chương, nghệ thuật sẽ không có giá trị, không có sức sống, không có cơ sở để tồn tại.

- không có nghệ thuật thì thực tại, cũng chẳng có bao nhiêu giá trị: vai trò quan trọng của văn học nghệ thuật đối với thực tại đời sống, góp phần tạo nên ý nghĩa, giá trị cho thực tại.

Vấn đề cần bàn luận: Albert Camus đã nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết, gắn bó giữa văn chương nghệ thuật và thực tại đời sống.

 

2.2

Bàn luận

7,5

2.2.1

 Nghệ thuật chẳng là gì nếu không có thực tại

4,0

 

- Văn học phản ánh thực tại đời sống, thực tại chính là mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng, tạo nên sức sống cho tác phẩm.

- Không bám rễ vào đời, nghệ thuật chẳng thể nào tồn tại và phát triển được.

- Thực tại không chỉ là gốc rễ cung cấp đề tài, cảm hứng sáng tạo, nội dung, nghệ thuật phản ánh mà còn là đích đến cuối cùng của mỗi tác phẩm.

- Giá trị của văn học chỉ có thể được khẳng định trong mối quan hệ với các phương diện của đời sống.

 

2.2.2  

 Nhưng nếu không có nghệ thuật thì thực tại, cũng chẳng có bao nhiêu giá trị

3,5

 

- Nghệ thuật với sức mạnh kì diệu đã bất tử hoá những thực tại đã qua của nhân loại, tôn vinh những giá trị thật của đời sống (đặc biệt là những giá trị đời thường, khó nắm bắt).

 - Nghệ thuật thực hiện sứ mệnh nhận thức, cảnh báo, cải tạo hiện thực, giúp hiện thực ngày một tốt đẹp hơn.

 

 

* Lưu ý khi chứng minh:

- Thí sinh được tự do chọn dẫn chứng, miễn là chọn được những tác phẩm hay để phân tích một cách thuyết phục, làm sáng tỏ vấn đề.

- Phân tích dẫn chứng cần tập trung vào các vấn đề sau:

+ Làm rõ được vai trò của thực tại trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm.

+ Thấy được tầm quan trọng của nghệ thuật đối với thực tại đời sống.

 

2.3

Liên hệ, mở rộng

- Ý kiến của Albert Camus đã khẳng định được đặc trưng, vai trò quan trọng của thực tại đời sống với văn học và ngược lại.

- Ý kiến có ý nghĩa định hướng cho người sáng tác và tiếp nhận:

+ Người sáng tác cần trau dồi vốn sống, phải luôn sáng tạo để mang đến sự độc đáo, mới lạ, khẳng định được sức sống của tác phẩm đối với hiện thực đời sống.

+ Người đọc cần đi sâu vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm để nắm được bản chất, quy luật của đời sống, để thấy được ý nghĩa của hiện thực trong việc tạo nên giá trị của tác phẩm, đồng thời thấy được những giá trị của thực tại.

2,0

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1

(8,0 điểm)

1

Hình thức, kĩ năng

1,0

Đáp ứng yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội.

Trình bày vấn đề một cách khoa học, hấp dẫn.

 

2

Nội dung

7,0

2.1

Giải thích

1,0

 

Giải thích từ ngữ:

- cha dạy con tin yêu từ ngọn cỏ: Cha dạy con niềm tin yêu từ những nhỏ bé, mộc mạc nhất (ngọn cỏ) đến những điều lớn lao, cao cả.

- rồi mai sau con sẽ nghi ngờ: Nghi ngờ là trạng thái đối lập với tin yêu. Cha còn dạy con bài học về thái độ hoài nghi, là sự kiểm chứng thận trọng trước khi bắt đầu sự tin tưởng; là những băn khoăn, suy tư trước cuộc đời.

- con sẽ trả lời những câu hỏi của đời cha/con cũng sẽ đặt nhiều câu hỏi mới: Con sẽ phải tự khám phá, tìm hiểu cuộc sống bằng cách nhìn nhận, phán xét vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau thông qua những lần tự vấn. Phải nắm được quy luật của sự phát triển, hướng tới nhận thức đúng đắn về cuộc sống và con người, nâng cao nhận thức, bản lĩnh trước muôn mặt phức tạp đa dạng của đời sống.

- lòng cha dẫu héo khô cành mận dại/nhựa âm thầm buốt trắng những nhành hoa: Con người có thể trải qua mất mát, đổ vỡ, tổn thương nhưng niềm tin yêu là chất nhựa sống mãnh liệt để vượt lên và tỏa hương sắc. Lời cha nhắn nhủ con - Hãy như thế hệ cha anh, lấy niềm tin và tình yêu làm gốc rễ, để vươn cành, nở hoa, hướng tới tương lai, sống một cuộc sống có ý nghĩa.

 Thông điệp: Đoạn thơ là lời nhắn nhủ đầy tin yêu để giúp thế hệ sau trưởng thành, khơi dậy tình yêu và niềm tin trong mỗi con người, cũng là niềm hi vọng vào điều tốt đẹp luôn tồn tại khi chúng ta biết tin và biết hoài nghi.

 

2.2

Bàn luận

5,0

2.2.1

Giá trị của niềm tin yêu

2,0

 

- Niềm tin yêu là sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi con người: Niềm tin yêu là nguồn sức mạnh nội sinh giúp phát huy nội lực và đạt được những điều phi thường.

 - Niềm tin yêu là kim chỉ nam cho cuộc sống: Niềm tin yêu có thể mang đến động lực, sự kiên nhẫn để giúp con người vượt qua những khó khăn, thử thách; khơi dậy sức sống, tình yêu, niềm đam mê.

 - Niềm tin yêu là nền tảng cho các mối quan hệ tốt đẹp: Niềm tin yêu là cơ sở để xây dựng sự gắn kết, yêu thương giữa người với người.

 

2.2.2

 Giá trị của những mối hoài nghi

1,5

 

- Nghi ngờ nhìn bên ngoài có thể là sự đối lập với niềm tin nhưng trong sâu xa, sự nghi ngờ là một phần của quá trình xây dựng niềm tin vững chắc. Một thái độ hoài nghi cùng sự kiểm chứng thận trọng sẽ mang tính chất khoa học, là cơ sở cho một niềm tin bền vững.

- Sự nghi ngờ là điều mà con người tự hình thành trong quá trình trưởng thành: Sự nghi ngờ là thái độ mang tính chủ quan, đối thoại với những quan điểm khác; chỉ có thể nảy sinh khi con người đã đủ hiểu biết, đủ bản lĩnh để phản biện lại những điều chưa chuẩn xác.

 

 

2.2.3

Trong mỗi con người cần có niềm tin yêu lẫn những hoài nghi

1,5

 

- Tin yêu và nghi ngờ là hai mặt đối lập của một thể thống nhất, gắn với quá trình nhận thức, tự nhận thức của cá nhân. Tin mới yêu và yêu lại càng tin. Tuy nhiên, nghi ngờ lại là kiểm chứng để khẳng định cho niềm tin yêu có cơ sở vững chắc, để nhận rõ bản chất và quy luật của cuộc sống.

 - Niềm tin và tình yêu thương cần được hình thành từ khi còn nhỏ làm cơ sở cho sự nghi ngờ của một nhân cách trưởng thành: Sự nghi ngờ chỉ trở nên tích cực sau khi con người đã hình thành đủ tình yêu và niềm tin căn bản vào con người và cuộc sống.

 

2.3

 Liên hệ, mở rộng

1,0

 

Phê phán những người hoài nghi khả năng của bản thân, hoài nghi cuộc sống, quá nhút nhát, luôn sợ sai lầm.