Câu hỏi:

18/01/2026 40 Lưu

Đọc đoạn văn bản:

BẾN THỜI GIAN (Tạ Duy Anh)

  Bà Hảo bị mù cả hai mắt từ khi tôi chưa ra đời. Tôi và cháu nội bà  - cái Hoa - cùng sinh một năm. Bà Hảo đón cái Hoa về nuôi mà không chịu ra thị trấn ở với bố mẹ nó. Thế là cái Hoa trở thành bạn thân thuở bé của tôi. Chúng tôi quấn quýt với nhau như hai anh em ruột. Hàng ngày tôi đều sang với cái Hoa và hai đứa thường bí mật bày ra đủ trò tinh quái. Bà Hảo ngồi ở bờ hiên và bà luôn luôn tìm được việc gì đó vừa làm vừa canh chừng chúng tôi. Bà biết khi nào chúng tôi đang ở gần bờ ao, gióng lên một câu thật nghiêm:

 - Cả hai đứa quay vào! Cấm chỉ ra bờ ao.

Tôi và cái Hoa chỉ còn biết lấm lét nhìn nhau phục tài bà. Có lần chúng tôi vờ im lặng đến cạnh bà. Đang yên trí là bà Hảo không biết thì tiếng bà thản nhiên cất lên:

- Giận gì nhau mà im như thóc thế?

Chúng tôi phá lên cười. Bà Hảo mắng yêu:

- A, gớm cái quân này, định trêu bà phỏng. Chúng mày có độn thổ bà vẫn biết moi lên như moi khoai ấy.

Chúng tôi bèn mỗi đứa một bên áp vào ngực bà:

- Làm sao bà trông thấy chúng cháu?

- Lớn lên khắc biết – bà Hảo chớp chớp cặp mắt – người ta chẳng ai chỉ toàn gặp rủi đâu.

Chúng tôi chỉ cảm nhận từ lời nói của bà một điều gì đó mơ hồ mà thiêng liêng. Điều chắc chắn là bà Hảo không thể nhìn thấy chúng tôi nếu bà không yêu chúng tôi như những báu vật.

Lớn lên, đứa trước, đứa sau, cả tôi và cái Hoa cùng ra thị trấn, cách làng đúng một ngày xe ngựa.

Thời gian đầu chưa quen môi trường mới, cả hai đứa thường xin bố mẹ về làng thăm bà. Khi bác xà ích vui tính và tốt bụng ghìm con ngựa để tôi và cái Hoa nhảy xuống, đã thấy bà Hảo chống gậy chờ sẵn ở đó. Chúng tôi, mỗi đứa một bên dìu bà về nhà. Bà Hảo bo bà đã nghe thấy tiếng lọc cọc, lọc cọc của chiếc xe gõ từ trong giấc mơ của bà những đêm trước. Sau này tôi mới biết, chiều nào bà cũng đợi chúng tôi tại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng.

Những chuyến thăm bà Hảo của chúng tôi thưa dần. Cả tôi và cái Hoa đều có lũ bạn và con đường về làng, vẫn chỉ có một ngày xe ngựa, trở nên xa mù mịt. Thảng hoặc có giỗ, tết...chỉ mình cái Hoa theo bố mẹ về. Nhưng nó lại đi ngay. Nó bảo bà Hảo rất nhớ tôi và mong tôi học hành cẩn thận. Ban đầu tôi đón nhận điều đó với một chút ân hận vì không về thăm bà. Nhưng rồi tôi quên dần nhiều thứ trong đó có cái làng hẻo lánh của mình, nơi bà Hảo vẫn ngày đêm nghe tiếng lọc cọc của xe ngựa...

(Lược một đoạn: Sau đó nhân vật tôi cùng Hoa đỗ đại học và ra thành phố, dần lãng quên làng nhỏ tuổi thơ. Nhưng rồi một ngày, sau những vấp ngã trên đường đời, tôi đã tìm về làng. Tôi đi trên chiếc xe ngựa thân quen năm nào của bác xà ích và bao kỉ niệm chợt ùa về)

Tôi lại dỏng tai đón nhận thứ âm thanh giống như dao động tắt dần của quả lắc đồng hồ. Lát sau thì bà Hảo hiện ra ở lối rẽ. Bà dò đường một cách chật vật, toàn bộ tinh lực hướng về bến xe ngựa. Không cầm được, tôi lao như tên bắn về phía bà:

- Bà! Tôi nghẹn ngào - cháu bị người ta phản bội rồi...

Bà Hảo lần lần từ đầu đến vai tôi như thể xem bà có đang mơ không rồi cười một cách mãn nguyện:

- Bố mày, lớn thế còn khóc như con nít ấy. Dễ thường suôn sẻ cả có khi nó chả thèm biết bà sống hay chết.

- Làm sao bà biết điều đó? – Tôi hỏi bà bằng nỗi sợ hãi.

- Lớn lên khắc biết – bà Hảo vẫn trả lời tôi như từng trả lời hồi tôi còn bé.

Tôi có cảm giác bà Hảo cũng thuộc số người quyết sống chỉ để làm việc không thể bỏ dở. Bởi vì ngay sau đó bà bảo tôi:

- Từ ngày mai bà có thể chết mà không luyến tiếc điều gì.

Tôi đứng chết lặng, cảm thấy vang lên trong lồng ngực tiếng gõ da diết và tàn nhẫn của thời gian. Trước mắt tôi giờ đây là những bến thời gian trắng xóa mà tôi sẽ phải một mình vượt qua.

(Trích Bến thời gian, Tạ Duy Anh, Truyện ngắn chọn lọc – Tạ Duy Anh, NXB Hội nhà văn)

-----------------------------------

Tạ Duy Anh sinh năm 1959, là một nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Truyện ngắn của Tạ Duy Anh thường khai thác các vấn đề xã hội, con người trong bối cảnh đầy biến động, với ngòi bút tinh tế, mạnh mẽ, gợi người đọc những suy ngẫm sâu sắc về những mâu thuẫn, khát vọng và sự vô thường trong cuộc sống.

Xác định ngôi kể trong văn bản.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack
Ngôi kể trong văn bản: Ngôi thứ nhất/ Ngôi thứ nhất, người kể chuyện xưng “tôi”.

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Theo văn bản, câu nói quen thuộc nào của bà Hảo gắn bó với nhân vật “tôi” và Hoa từ thuở ấu thơ đến khi họ trưởng thành?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Theo văn bản, câu nói quen thuộc nào của bà Hảo gắn bó với nhân vật “tôi” và Hoa từ thuở ấu thơ đến khi họ trưởng thành: “Lớn lên khắc biết”.

Câu 3:

Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn sau:

Bà Hảo mắng yêu:

       - A, gớm cái quân này, định trêu bà phỏng. Chúng mày có độn thổ bà vẫn biết moi lên như moi khoai ấy.

Chúng tôi bèn mỗi đứa một bên áp vào ngực bà:

- Làm sao bà trông thấy chúng cháu?

- Lớn lên khắc biết – bà Hảo chớp chớp cặp mắt – người ta chẳng ai chỉ toàn gặp rủi đâu.”

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn:

- Hình thức đối thoại, có sự đổi vai của người nói và người nghe (bà Hảo và nhân vật “tôi”, cái Hoa).

- Ngôn ngữ giản dị, đời thường, dân dã, quen thuộc, có sử dụng các từ biểu cảm, từ khẩu ngữ, hô gọi để thể hiện thái độ, cảm xúc của những người tham gia giao tiếp: A, phỏng, độn thổ, moi như moi khoai,…

Câu 4:

Nêu ý nghĩa của chi tiếtSau này tôi mới biết, chiều nào bà cũng đợi chúng tôi tại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Ý nghĩa của chi tiếtSau này tôi mới biết, chiều nào bà cũng đợi chúng tôi tại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng”:

 - Nhân vật tôi cảm nhận được sự ngóng trông, đời chờ của người bà dành cho hai đứa cháu; từ đó giúp người đọc thấy được tình cảm bà dành cho cháu bền chặt, thủy chung, sâu sắc.

 - Thể hiền niềm cảm thông, thấu hiểu của tác giả trước cảnh ngộ; thái độ trận trọng, nâng niu vẻ đẹp tâm hồn người bà.

- Chi tiết nhắc nhở người đọc, những người trẻ cần vỗ về yêu thương, gìn giữ nâng niu những tình cảm nguồn cội thiêng liêng.

Câu 5:

Từ hình ảnh “bến thời gian trắng xoá” trong văn bản, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ về giá trị của những kí ức tuổi thơ đối với mỗi người (trình bày khoảng 5 – 7 dòng).

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Từ ý nghĩa hình ảnh “bến thời gian trắng xoá” trong văn bản, thí sinh bày tỏ suy nghĩ về giá trị của những kí ức tuổi thơ đối với mỗi người. Có thể theo hướng: kí ức tuổi thơ là những kỉ niệm quý giá từ thủa nhở được lưu giữ bền lâu; kí ức tuổi thơ là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp tâm hồn con người; kí ức tuổi thơ sẽ điểm tựa, động lực để chúng ta bước tiếp tương lai. ….; nơi níu giữ những tình cảm nguồn cội trước sự chạy trôi, đổi thay của cuộc đời.

Câu 6:

Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà Hảo trong văn bản ở phần Đọc hiểu.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: khoảng 200 chữ. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch hay quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà Hảo.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận.

Lựa chọn được hệ thống ý phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ vấn đề nghị luận trên cơ sở đảm bảo nội dung sau:

- Bà Hảo là người sống giàu tình cảm, nhân hậu, bao dung, gần gũi (luôn yêu thương, quan tâm chăm sóc các cháu khi còn nhỏ, động viên nhân vật tôi học hành tốt,…)

- Luôn tin tưởng vào tình người (“chiều nào bà cũng đợi chúng tôi tại nơi chiếc xe ngựa dừng trả khách ở điểm cuối cùng.”)

- Bà con là người từng trải, sâu sắc (câu nói, lớn lên rồi khắc biết; Dễ thường suôn sẻ cả có khi nó chả thèm biết bà sống hay chết)

d. Đánh giá.

- Việc khắc họa vẻ đẹp tâm hồn bà Hảo góp phần thể hiện nội dung tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.

- Bà Hảo là hình mẫu đẹp đẽ của người mẹ, người bà quê hương Việt Nam.

e. Sáng tạo

-       Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.

-       Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.

Câu 7:

Từ văn bản đọc hiểu "Bến thời gian" của Tạ Duy Anh, dưới góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Thời gian là phép thử với những giá trị sống đích thực.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a.     Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề nghị luận, bảo đảm bố cục và dung lượng và sử dụng bằng chứng:

- Vấn đề nghị luận: Thời gian là phép thử với những giá trị sống đích thực.

- Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (600 chữ).

- Dẫn chứng: Thực tế đời sống (chủ yếu) và tác phẩm “Bến thời gian”

b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí, sử dụng các kĩ năng nghị luận:

- Lựa chọn các thao tác phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận.

b1: Viết được mở bài, kết bài cho bài văn nghị luận xã hội:

- Mở bài: nêu được vấn đề nghị luận.

- Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận.

b2. Giải thích vấn đề nghị luận:

- Thời gian: là dòng chảy liên tục, là quy luật tự nhiên không ngừng trôi đi, không chờ đợi ai.

- Phép thử: là sự kiểm chứng, sàng lọc, thử thách để bộc lộ bản chất thật.

- Giá trị sống đích thực: là những phẩm chất, lý tưởng, hành động tốt đẹp, bền vững, có ý nghĩa với bản thân và xã hội.

Khái quát: thời gian là thước đo công bằng nhất để nhận ra đâu là điều chân thật, bền vững, đâu chỉ là hào nhoáng, nhất thời.

b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận:

 *Phân tích, chứng minh vì sao thời gian là phép thử với những giá trị sống đích thực:

-       Thời gian giúp phân định giá trị thật – giả:

   + Những giá trị sống được xây trên niềm tin, tình yêu thương, lòng trung thực, nhân nghĩa, sự cống hiến… sẽ càng được khẳng định theo năm tháng.

   + Ngược lại, những gì dựa trên giả dối, vụ lợi, danh vọng hư ảo sẽ sớm bị thời gian cuốn trôi.

-       Thời gian là phép thử của nhân cách và tình cảm:

   + Một con người có đạo đức thật sự sẽ vẫn được trân trọng dù thời gian trôi qua.

   + Một tình bạn, tình yêu, hay lý tưởng chỉ tồn tại bền lâu khi nó được vun đắp bằng sự chân thành.

-       Thời gian thử thách ý chí và lòng kiên định của tuổi trẻ:

+ Giữa xã hội biến động, chỉ những ai giữ vững niềm tin, nỗ lực bền bỉ mới đi đến thành công.

+ Như dòng nước mài đá, thời gian giúp con người trưởng thành, tôi luyện bản lĩnh, và chứng minh giá trị sống của mình.

-       Dẫn chứng minh họa: Nhiều tấm gương trong cuộc sống: những người cống hiến âm thầm (những chiến sĩ, thầy cô, nhà khoa học, nghệ sĩ chân chính) – thời gian càng trôi, giá trị họ để lại càng sáng.

*Phân tích, chứng minh ý nghĩa của vấn đề nghị luận:

-       Thời gian giúp khẳng định, chứng minh giá trị thật của con người và cuộc sống, từ đó biết trân trọng điều tốt đẹp, bền lâu.

-       Thời gian nhắc nhở con người biết sống có trách nhiệm, biết gieo giá trị tốt đẹp để không hối tiếc.

 b4. Mở rộng, phản đề, nâng cao được vấn đề nghị luận, rút ra bài học:

-       Có người sống gấp, chạy theo danh lợi trước mắt, để rồi thời gian phơi bày sự trống rỗng, giả tạo.

-       Tuổi trẻ cần hiểu rằng: thời gian không lấy đi giá trị thật — nó chỉ làm phai màu điều phù phiếm, giả tạo và khắc sâu giá trị đích thực, bền vững.

-       Là người trẻ trong thời đại mới, ta cần:

   + Biết trân trọng từng phút giây, sống có mục tiêu, có trách nhiệm.

   + Nuôi dưỡng giá trị sống chân thành, hướng thiện; không để thời gian trôi đi vô nghĩa.

   + Xây dựng nhân cách, biết sống cống hiến – để thời gian chứng minh giá trị thật của bản thân.

b5. Sáng tạo:

-       Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục.

-       Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.

Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Theo văn bản, câu nói quen thuộc nào của bà Hảo gắn bó với nhân vật “tôi” và Hoa từ thuở ấu thơ đến khi họ trưởng thành: “Lớn lên khắc biết”.

Lời giải

Đặc điểm của ngôn ngữ nói được thể hiện trong đoạn văn:

- Hình thức đối thoại, có sự đổi vai của người nói và người nghe (bà Hảo và nhân vật “tôi”, cái Hoa).

- Ngôn ngữ giản dị, đời thường, dân dã, quen thuộc, có sử dụng các từ biểu cảm, từ khẩu ngữ, hô gọi để thể hiện thái độ, cảm xúc của những người tham gia giao tiếp: A, phỏng, độn thổ, moi như moi khoai,…

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP