Câu hỏi:

22/04/2026 13 Lưu

Để kiểm tra độ đạm nước mắm trong thùng gỗ trước khi đóng chai, người ta sử dụng một chiếc gáo múc có dạng nửa hình cầu với bán kính 3cm để đổ vào một ống nghiệm hình trụ có đường kính đáy là 10cm và chiều cao 25cm. Mỗi lần múc nước mắm từ thùng gỗ ra chỉ đạt 95% thể tích của gáo và lượng hao hụt khi đổ vào ống là không đáng kể. Hỏi phải múc ít nhất bao nhiêu lần để lượng nước mắm trong ống nghiệm đạt độ cao tối thiểu 18cm?

Để kiểm tra độ đạm nước mắm trong thùng gỗ trước khi đóng chai, người ta sử dụng một chiếc gáo múc có dạng nửa hình cầu với bán kính 3cm để đổ vào một ống nghiệm hình trụ có đường kính đáy là (ảnh 1)

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Thể tích của chiếc gáo nửa hình cầu là: \({V_1} = \frac{2}{3} \cdot \pi \cdot {R^3} = \frac{2}{3} \cdot \pi \cdot {3^3} = 18\pi (c{m^3})\)

Thể tích nước mắm thực tế múc được trong mỗi lần:\({V_2} = 18\pi \cdot 95\% = 17,1\pi \) (\(c{m^3}\))

Bán kính đáy của ống đong hình trụ là: \(R = 10:2 = 5\) (cm)

Thể tích nước mắm trong ống đong khi đạt độ cao \(18cm\) là: \({V_3} = \pi \cdot {5^2} \cdot 18 = 450\pi \)(\(c{m^3}\))

Vì \(450\pi :17,1\pi \approx 26,3\) nên số lần múc cần thiết để đạt độ cao tối thiểu 18cm là 27 lần.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

\(\Delta ' = {2^2} - 1 \cdot 1 = 3 > 0\) nên phương trình luôn có hai nghiệm phân biệt \({x_1},{x_2}\).

Theo hệ thức Vi-ét, ta có: \(\left\{ {\begin{array}{*{20}{l}}{{x_1} + {x_2} = - 4}\\{{x_1}{x_2} = 1}\end{array}} \right.\). Đặt \[T = \frac{A}{B}\].

Nhận xét: Vì tích \({x_1}{x_2} = 1 > 0\) và tổng \({x_1} + {x_2} = - 4 < 0\) nên cả hai nghiệm \({x_1},{x_2}\) đều là số âm.

Với \[{x_1} > {x_2}\] thì \({x_1} - {x_2} = \sqrt {{{({x_1} + {x_2})}^2} - 4{x_1}{x_2}} = \sqrt {12} = 2\sqrt 3 \).

Mẫu số: Vì \[{x_1}\] là nghiệm của phương trình nên \(x_1^2 = - 4{x_1} - 1\)

\[ \Rightarrow \]\(x_1^3 = {x_1}( - 4{x_1} - 1) = - 4x_1^2 - {x_1} = - 4( - 4{x_1} - 1) - {x_1} = 15{x_1} + 4\)

\[ \Rightarrow \]\(B = (15{x_1} + 4) + 15{x_2} + 64 = 15({x_1} + {x_2}) + 68 = 15( - 4) + 68 = 8\)

Tử số: Ta thay \( - 4{x_1} = x_1^2 + 1\) \[ \Rightarrow \] \( - 4{x_1} + 7 = (x_1^2 + 1) + 7 = x_1^2 + 8\)

\[ \Rightarrow \]\(\sqrt {16x_2^2 - 4{x_1} + 7} = \sqrt {16x_2^2 + x_1^2 + 8} = \sqrt {16x_2^2 + x_1^2 + 8{x_1}{x_2}} = \sqrt {{{({x_1} + 4{x_2})}^2}} = |{x_1} + 4{x_2}|\)

Vì \({x_1},{x_2} < 0\) nên \(|{x_1} + 4{x_2}| = - {x_1} - 4{x_2}\)

\( \Rightarrow A = ( - {x_1} - 4{x_2}) + 10{x_1} + 5{x_2} + 20 = 9{x_1} + {x_2} + 20\)\( = 4{x_1} - 4{x_2} = 4({x_1} - {x_2})\)

Vậy: \(T = \frac{A}{B} = \frac{{4({x_1} - {x_2})}}{8} = \frac{{4.2\sqrt 3 }}{8} = \sqrt 3 \)

Lời giải

Đổi: 1 phút 40 giây = 100 giây \( = \frac{{100}}{{3600}}\) giờ \( = \frac{1}{{36}}\) giờ.

Gọi \(x\) (\(km/h\)) là vận tốc của VĐV Vũ Khánh Linh trong chặng cuối (\(x > 0,5\)).

Vận tốc của VĐV Yukiko Nomoto trong chặng cuối là: \(x - 0,5\) (\(km/h\)).

Quãng đường bứt tốc cho đến đích: \[42 - 31,5 = 10,5\]km

Thời gian Linh đi hết \(10,5km\) cuối là: \(\frac{{10,5}}{x}\) (giờ).

Thời gian Yukiko đi hết \(10,5km\) cuối là: \(\frac{{10,5}}{{x - 0,5}}\) (giờ).

Theo đề bài, ta có phương trình: \(\frac{{10,5}}{{x - 0,5}} - \frac{{10,5}}{x} = \frac{1}{{36}}\)

Biến đổi phương trình trên ta được: \(2{x^2} - x - 378 = 0\)

Giải phương trình trên ta được: \({x_1} = 14\) (Thỏa mãn); \({x_2} = - 13,5\) (Loại).

Kết luận: Vận tốc của Vũ Khánh Linh là \(14km/h\) và của Yukiko Nomoto là \(13,5km/h\)

trong chặng cuối

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP