Câu hỏi:

08/05/2026 11 Lưu

(4,0 điểm)

Theo khuyến cáo, mỗi ngày mỗi người nên uống ít nhất 2 lít nước nhằm giúp cơ thể hoạt động hiệu quả, duy trì sức khỏe và ngăn ngừa bệnh tật. Hàng ngày bác An đều dùng một chiếc cốc có dạng hình trụ với chiều cao \(9,5\;cm\), đường kính miệng cốc \[8cm\]. Lấy \[\pi  \approx 3,14\] và coi bề dày của thành cốc và đáy cốc là không đáng kể.

a) Tính diện tích xung quanh chiếc cốc của bác An.

b) Mỗi lần uống, lượng nước bác An rót vào cốc chỉ bằng \(65\% \) sức chứa của cốc. Trung bình mỗi ngày bác An uống 7 lần nước như vậy. Hỏi bác An có uống đủ lượng nước theo khuyến cáo trên hay không? (Biết 1 lít nước \( = 1000\;c{m^3}\))

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Bán kính của đường tròn đáy cốc là: \(r = 8:2 = 4(\;cm)\).

a) Diện tích xung quanh chiếc cốc của bác An là

\({S_{xq}} = 2\pi rl \approx 2.3,14.4.9,5 = 238,64\left( {c{m^2}} \right)\)

b) Thể tích chiếc ly là: \(V = \pi  \cdot {r^2} \cdot h \approx 3,14 \cdot {4^2} \cdot 9,5 = 477,28\left( {c{m^3}} \right)\)

Lượng nước trung bình bạn Bình uống mỗi ngày là:

\[65\% .V.7 \approx 0,65.477,28.7 \approx 2171,624\left( {\;c{m^3}} \right) = 2,171624\left( l \right)\]

Vì \(2,171624 > 2\) nên bạn Bình uống đủ nước theo khuyến cáo.

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Cho nửa đường tròn tâm \[O\], đường kính \[AB\]. Đường thẳng đi qua tâm \[O\] và vuông góc với đường kính \[AB\] cắt nửa đường tròn \((O)\) tại điểm \[C\]. Trên tia đối của tia \[CA\] lấy điểm \(D\)\(\left( {D \ne C} \right),\) kẻ \[CH\] vuông góc với đường thẳng \[BD\] tại điểm \[H\].

a) Chứng minh bốn điểm \(O,B,H,C\) cùng thuộc một đường tròn.

b) Gọi \[E\] là giao điểm của hai đường thẳng \[HO\]\[BC\]. Chứng minh \[HO\] là tia phân giác của \[\widehat {CHB}\]\(CH.EC = DH.EB\).

c) Đường tròn ngoại tiếp \[\Delta CDH\] cắt nửa đường tròn đường kính \[AB\] tại điểm \(K\left( {K \ne C} \right)\). Chứng minh \(C{K^2} < \frac{{D{E^2}}}{4}\).

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Vậy \(C{K^2} < \frac{{D{E^2}}}{4}\) (đpcm). (ảnh 1)

a) Do \(OC \bot AB\) tại \[O\] nên \(\Delta COB\) vuông tại O nên \(C,O,B\) cùng thuộc đường tròn đường kính \[CB\].

Có \(CH \bot BD\) tại \[H\] nên \(\Delta CBH\) vuông tại \[H\] nên \[C,\,\,H,\,\,B\] cùng thuộc đường tròn đường kính \[CB\].

Vậy \(C,H,B,O\) cùng thuộc đường tròn đường kính \[CB\] hay tứ giác \[OBHC\] nội tiếp.

b) Ta có \(OC = OB = R\) nên \(\Delta OBC\) vuông cân tại \[O\].

Khi đó \(\widehat {OCB} = \widehat {OBC} = 45^\circ \).

Do \[OBHC\] nội tiếp nên \(\widehat {CHO} = \widehat {CBO} = 45^\circ \) (cùng chắn cung \[CO\]) và \(\widehat {OHB} = \widehat {OCB} = 45^\circ \) (cùng chắn cung \[OB\]).

Suy ra \(\widehat {CHO} = \widehat {OHB} = 45^\circ \) hay \[OH\] là phân giác của \(\widehat {CHB}\).

Do \[OH\] là phân giác của \(\widehat {CHB}\) nên \(\frac{{CE}}{{BE}} = \frac{{CH}}{{HB}}\) (tính chất đường phân giác).

Do \(C \in (O)\) nên \(\widehat {ACB} = 90^\circ \) (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn) suy ra \(CB \bot CD\) tại \[C\].

Suy ra \(\widehat {DCH} + \widehat {HCB} = 90^\circ \).

Mà \(\widehat {CBH} + \widehat {BCH} = 180^\circ  - \widehat {CHB} = 90^\circ \) nên \(\widehat {DCH} = \widehat {CBH}\) (cùng cộng \(\widehat {BCH}\) bằng \(90^\circ \))

Kết hợp \(\widehat {CHB} = \widehat {CHD} = 90^\circ \) suy ra  (g.g)

Suy ra \(\frac{{DH}}{{CH}} = \frac{{HC}}{{HB}}\).

Mà \(\frac{{CE}}{{BE}} = \frac{{CH}}{{HB}}\) nên \(\frac{{DH}}{{CH}} = \frac{{CE}}{{BE}}\) hay \(DH \cdot BE = CE.CH\)

c) Kẻ đường kính \[CM\] của \((O)\). Do \(K \in (O)\) nên \(KM \bot CK\).

Lại có \(K\) thuộc đường tròn đường kính \[CD\] nên \(\widehat {CKD} = 90^\circ \) hay \(DK \bot CK\).

Suy ra \(D,K,M\) thẳng hàng.

Gọi \({\rm{E'}}\) là giao điểm của \[CB\] và \[DM\].

Do \[CM\] là đường kính nên \(\widehat {CBM} = 90^\circ \) nên \(BM \bot CB\).

Mà \(CD \bot BC\) nên \(BM{\rm{//}}CD\).

Khi đó \(\frac{{CE'}}{{E'B}} = \frac{{CD}}{{BM}}\) (theo định lí Thalès).

Mà \(BM = BC\) nên \(\frac{{CD}}{{BM}} = \frac{{CD}}{{BC}} = \tan \widehat {CBD} = \frac{{CH}}{{BH}}\).

Vậy \(\frac{{CE'}}{{E'B}} = \frac{{CH}}{{HB}}\) suy ra \(HE'\) là phân giác của \(\widehat {CHB}\).

Mà \[HE\] là phân giác của \(\widehat {CHB}\) nên \(E \equiv E'\) hay \(D,E,K,M\) thẳng hàng.

Ta có \(\widehat {CDE} = \widehat {ECK}\) (cùng phụ \(\widehat {DCK}\)).

Kết hợp \(\widehat {CKD} = \widehat {CKE} = 90^\circ \). Khi đó .

Suy ra \(\frac{{CK}}{{EK}} = \frac{{DK}}{{CK}}\) hay \(C{K^2} = EK.DK\).

Lại có \(EK.DK \le \frac{{{{(EK + DK)}^2}}}{4} = \frac{{D{E^2}}}{4}\) nên \(C{K^2} \le \frac{{D{E^2}}}{4}\).

Suy ra \(CK \le \frac{{DE}}{2}\) hay \(DE \ge 2CK\).

Dấu "=" xảy ra khi \[K\] là trung điểm của \[DE\] hay \[K\] phải thoả mãn \(\widehat {KCD} = 45^\circ \).

Mà \(\widehat {ACM} = 45^\circ \) nên \(\widehat {MCK} = 90^\circ \) (vô lí).

Vậy \(C{K^2} < \frac{{D{E^2}}}{4}\) (đpcm).

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Gọi \(x\)là số lá cờ xưởng phải làm mỗi ngày theo kế hoạch (\(x \in \mathbb{N}\), lá cờ).

Thời gian dự định hoàn thành là: \(\frac{{40000}}{x}\) (ngày).

Thực tế, mỗi ngày xưởng làm được: \(x + 200\) (lá cờ).

Thời gian thực tế hoàn thành là: \(\frac{{40000}}{{x + 200}}\) (ngày).

Vì xưởng hoàn thành sớm hơn 10 ngày so với kế hoạch, ta có phương trình:

 \(\frac{{40000}}{x} - \frac{{40000}}{{x + 200}} = 10\)

\(\frac{{4000}}{x} - \frac{{4000}}{{x + 200}} = 1\)

\(\frac{{4000(x + 200) - 4000x}}{{x(x + 200)}} = 1\)

\(4000x + 800000 - 4000x = {x^2} + 200x\)

\({x^2} + 200x - 800000 = 0\)

Giải phương trình ta được:

\({x_1} = \frac{{ - 100 + 900}}{1} = 800\) (thỏa mãn)

\({x_2} = \frac{{ - 100 - 900}}{1} =  - 1000\) (loại vì \(x > 0\))

Theo kế hoạch, mỗi ngày xưởng sản xuất phải làm 800 lá cờ.