(4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:
Văn bản 1:
TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN
Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi.
(Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Việt Chiến, tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”, NXB Phụ nữ, 2015)
Văn bản 2:
BIỂN
Biển trời soi mắt nhau
Cho sao về với sóng
Biển có trời thêm rộng
Trời xanh cho biển xanh
Mặt trời lên đến đâu
Cũng lên từ phía biển
Nơi ánh sáng bắt đầu
Tỏa triệu vòng yêu mến
Biển ơi! Biển thẳm sâu
Dạt dào mà không nói
Biển ơi cho ta hỏi
Biển mặt từ bao giờ
Nhặt chi con ốc vàng
Sóng xô vào tận bãi
Những cái gì dễ dãi
Có bao giờ bền lâu
Biển chìm trong đêm thâu
Để chân trời lại rạng
Khát khao điều mới lạ
Ta đẩy thuyền ra khơi
Dù bão giông vất vả
Không quản gì biển ơi!
(Biển, Lâm Thị Mỹ Dạ, tập thơ “Vần điệu cho em”, NXB Trẻ, 2024)
* Chú thích:
(1) Nguyễn Việt Chiến, sinh năm 1952, quê Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), là một nhà báo, nhà thơ. Nguyễn Việt Chiến yêu thơ, làm thơ từ rất sớm và luôn thể hiện phẩm hạnh của một thi sĩ. Trong thơ ông luôn đau đáu tình yêu Tổ quốc và biển đảo quê hương.
(2) Lâm Thị Mỹ Dạ (1949–2023), quê Quảng Bình, là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Bà được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Thơ bà luôn giàu ý tứ, chân thật, có nhiều rung cảm đầy nữ tính.
(4,0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn thơ sau:
|
Văn bản 1: TỔ QUỐC NHÌN TỪ BIỂN Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân
Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả Những chàng trai ra đảo đã quên mình Một sắc chỉ về Hoàng Sa thuở trước Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh
Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi. (Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Việt Chiến, tập thơ “Tổ quốc nhìn từ biển”, NXB Phụ nữ, 2015)
|
Văn bản 2: BIỂN Biển trời soi mắt nhau Cho sao về với sóng Biển có trời thêm rộng Trời xanh cho biển xanh
Mặt trời lên đến đâu Cũng lên từ phía biển Nơi ánh sáng bắt đầu Tỏa triệu vòng yêu mến
Biển ơi! Biển thẳm sâu Dạt dào mà không nói Biển ơi cho ta hỏi Biển mặt từ bao giờ
Nhặt chi con ốc vàng Sóng xô vào tận bãi Những cái gì dễ dãi Có bao giờ bền lâu
Biển chìm trong đêm thâu Để chân trời lại rạng Khát khao điều mới lạ Ta đẩy thuyền ra khơi Dù bão giông vất vả Không quản gì biển ơi! (Biển, Lâm Thị Mỹ Dạ, tập thơ “Vần điệu cho em”, NXB Trẻ, 2024) |
* Chú thích:
(1) Nguyễn Việt Chiến, sinh năm 1952, quê Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội), là một nhà báo, nhà thơ. Nguyễn Việt Chiến yêu thơ, làm thơ từ rất sớm và luôn thể hiện phẩm hạnh của một thi sĩ. Trong thơ ông luôn đau đáu tình yêu Tổ quốc và biển đảo quê hương.
(2) Lâm Thị Mỹ Dạ (1949–2023), quê Quảng Bình, là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Bà được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007. Thơ bà luôn giàu ý tứ, chân thật, có nhiều rung cảm đầy nữ tính.
Câu hỏi trong đề: Đề tham khảo Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2026-2027 (Đề 9) !!
Quảng cáo
Trả lời:
a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận văn học.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: So sánh, đánh giá hai đoạn thơ “Tổ quốc nhìn từ biển” (Nguyễn Việt Chiến) và “Biển” (Lâm Thị Mỹ Dạ).
c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận của bài viết:
* Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
a. Phân tích, chứng minh
a1. Điểm tương đồng:
– Nội dung:
+ Cả hai đoạn thơ đều lấy biển làm hình tượng trung tâm (đối tượng trữ tình), thể hiện vẻ đẹp hùng vĩ và thiêng liêng của thiên nhiên Việt Nam.
+ Thể hiện tình yêu sâu nặng với quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức trân trọng những giá trị vĩnh hằng của Tổ quốc.
– Nghệ thuật:
+ Sử dụng nhuần nhuyễn các biện pháp tu từ (ẩn dụ, nhân hoá) để khắc hoạ hình tượng biển.
+ Giọng điệu chung đều giàu chất trữ tình, cảm xúc được bộc lộ trực tiếp và mãnh liệt.
– Lí giải điểm tương đồng: Cả hai nhà thơ đều xuất phát từ tình yêu thiên nhiên, từ tình cảm sâu nặng dành cho biển cả quê hương, cho tổ quốc, con người Việt Nam.
a2. Điểm khác biệt:
– Nội dung:
+ Cảm hứng chủ đạo: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến là cảm hứng sử thi, công dân – biển gắn liền với những đau thương, mất mát, hi sinh. Còn trong “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ lại là cảm hứng lãng mạn, triết lí. Biển gắn liền với vẻ đẹp hài hoà, nguồn cội sự sống và bài học nhân sinh.
+ Hình tượng trung tâm: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến, hình tượng trung tâm – biển là không gian lịch sử, không gian chủ quyền của dân tộc. Còn hình tượng biển trong thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ là “bạn tâm giao”, là không gian vũ trụ, không gian triết lí.
+ Cảm xúc của nhân vật trữ tình: Trong đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến, cảm xúc chủ đạo là xúc động, tự hào, biết ơn những thế hệ đã ngã xuống của thế hệ đi trước và sự kiên cường, bền bỉ của thế hệ hôm nay trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo và xây dựng, phát triển đất nước. Từ đó thức tỉnh thế hệ hôm nay và mai sau về ý thức và trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Còn “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ chứa đựng cảm xúc tự hào vẻ đẹp của biển cả, biết ơn biển cả bao la mang đến nguồn sống cho con người và chiêm nghiệm, suy tư bài học nhân sinh sâu sắc về cội nguồn, về khát vọng khám phá, vươn xa.
– Nghệ thuật:
+ Đoạn trích “Tổ quốc nhìn từ biển” của Nguyễn Việt Chiến: thể thơ tự do linh hoạt, nhịp thơ thay đổi, lúc trang nghiêm, lúc dồn dập, thiết tha. Giọng điệu: trang trọng, hào hùng, bi tráng, mang tính chính luận, sử thi, có sức lay động mạnh mẽ ý thức cộng đồng. Hình ảnh, ngôn ngữ thơ: sử dụng nhiều hình ảnh, từ ngữ mang tính biểu tượng lịch sử, quân sự.
+ Bài thơ “Biển” của Lâm Thị Mỹ Dạ: thể thơ 5 chữ, nhịp thơ đều đặn (thường là 2/3 hoặc 3/2), nhẹ nhàng, du dương, như nhịp sóng vỗ, như lời tâm tình. Giọng điệu: thiết tha, sâu lắng, trầm tư, giàu chất nữ tính, như lời thủ thỉ, tự vấn, chia sẻ những khám phá nội tâm. Hình ảnh, ngôn ngữ: sử dụng nhiều hình ảnh giàu tính lãng mạn, triết luận: “soi mắt nhau”, “sao về với sóng”, “ốc vàng”, “đêm thâu”, “chân trời rạng”.
– Lí giải điểm khác biệt:
+ Hoàn cảnh sáng tác: Nguyễn Việt Chiến viết khi vấn đề chủ quyền biển đảo (đặc biệt là Hoàng Sa, Trường Sa) trở nên cấp thiết, đòi hỏi tiếng nói trách nhiệm công dân, tiếng nói thời sự – chính trị.
+ Phong cách nghệ thuật: Nguyễn Việt Chiến là nhà thơ – nhà báo, thường viết về người lính và chủ quyền biển đảo với giọng thơ mang âm hưởng sử thi, công dân, chính luận. Lâm Thị Mỹ Dạ là nhà thơ nữ thời hậu chiến, luôn hướng nội, viết bằng tâm hồn nhạy cảm của người phụ nữ với giọng thơ trữ tình, triết lí, đầy nữ tính.
+ Quy luật của lao động nghệ thuật là sáng tạo.
b. Đánh giá chung
– Cả Nguyễn Việt Chiến và Lâm Thị Mỹ Dạ đều mang đến những vần thơ ý nghĩa về biển. Một bên là biển của chiều rộng lịch sử, của chủ quyền thiêng liêng; một bên là biển của chiều sâu tâm hồn, của triết lí nhân sinh. Yêu biển không chỉ là yêu vẻ đẹp của nó, mà còn là yêu lịch sử, trân trọng sự hy sinh của cha ông để bảo vệ chủ quyền (thơ Nguyễn Việt Chiến). Đồng thời, yêu biển cũng là biết lắng nghe, biết suy tư để sống sâu sắc hơn, sống có khát vọng hơn (thơ Lâm Thị Mỹ Dạ). Trách nhiệm của thế hệ trẻ là phải có một trái tim nóng để giữ gìn từng tấc biển của Tổ quốc, một tâm hồn sâu sắc, tinh tế để khám phá, trân trọng những giá trị vĩnh hằng mà biển cả mang lại.
– Sự khác biệt đó góp phần tạo nên phong cách độc đáo riêng của mỗi tác giả, đồng thời làm nên sự phong phú, đa dạng cho nền thi ca Việt Nam hiện đại.
* Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
– Triển khai ít nhất được hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.
– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.đ. Diễn đạt:
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.e. Sáng tạo:
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Đang tải chế độ Học...
Hot: 1000+ đề thi giữa kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay
Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn
Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.
- Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
- Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
- Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
- Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
- Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
- Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
- Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
- Đăng ký ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
Hai thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn trích: giải thích, phân tích (hoặc bình luận).
Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:
Cách để “mái nhà thân yêu của ta có được sự bình yên”.c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:
– Phân tích cách để “mái nhà thân yêu của ta có được sự bình yên”:
+ “Mái nhà thân yêu” không chỉ là nơi che nắng che mưa, mà là biểu tượng của gia đình – nơi có những người ta yêu thương.
+ “Sự bình yên” là cảm giác an toàn, hạnh phúc, thấu hiểu, không có mâu thuẫn hay tổn thương.
+ Mỗi thành viên cần biết yêu thương, tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau. Cần biết lắng nghe, chia sẻ và tha thứ, tránh những lời nói hay hành động làm tổn thương nhau. Giữ gìn nề nếp, sống có trách nhiệm với bản thân và gia đình. Dành thời gian vun đắp tình cảm: cùng ăn bữa cơm, cùng trò chuyện, quan tâm nhau mỗi ngày. Xây dựng bầu không khí tích cực, ấm áp, đầy yêu thương.
+ Phê phán những người thiếu quan tâm, ích kỉ, thờ ơ, khiến mái nhà trở nên lạnh lẽo, căng thẳng.
– Đánh giá được ý nghĩa, bài học:
+ Khẳng định sự bình yên trong gia đình không tự nhiên mà có, nó được tạo nên từ tình yêu thương và trách nhiệm của mỗi thành viên.
+ Bài học: mỗi ngày cần học cách yêu thương, lắng nghe, và giữ gìn mái nhà như giữ gìn hạnh phúc của chính cuộc đời mình.d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đăng nhập để xem lời giải
Lưu tiến độ và luyện tập hiệu quả hơn. Hoàn toàn miễn phí!
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đăng ký để học cùng Vietjack. Hoàn toàn miễn phí!
Bằng việc đăng ký, bạn đồng ý với Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật của Vietjack.