có phải trong mọi trường hợp 2 cơ quan hành chính nhà nước ngang cấp có cùng địa vị pháp lý đều phát sinh quan hệ pháp luật hành chính hay không?
Câu hỏi trong đề: 50+ câu Trắc nghiệm Luật hành chính Việt Nam có đáp án !!
Quảng cáo
Trả lời:
Như chúng ta đã biết quan hệ pháp luật hành chính là những quan hệ xã hội pháp sinh trong lĩnh vực chấp hành điều hành,được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật hành chính giữa các chủ thể mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật hành chính.
Căn cứ vào khái niệm này ta thấy không phải mọi trường hợp giưa 2 cơ
Ví dụ: Giữa 2 UBND cùng cấp như UBND xã Xvà UBND xã Ylà 2 cơ quan quan hành chính nhà nước ngang cấp có cung địa vị pháp lý cũng phát sinh quan hệ pháp luật hành chính hành chính cùng cấp nhưng khôbg xảy ra quan hệ pháp luật hành chính với nhau vì đây không gần với hoạt động chấp hành, điều hành hoặc giữa UBND tỉnh lạng Sơn với UBND tỉnh Long Hải cũng vây đều là cơ quan hành chính ngang cấp nhưng không phát sinh quan hệ hành chính cũng bởi vì không gắn liền với hoạt động điều hành.
Giữa bộ khoa học công nghệ Môi trường với Bộ Nội vụ Quốc phòng cũng không phải là lúc nào cũng phát sinh quan hệ pháp luật hành chính vì không gần với hoạt động chấp hành điều hành
Giữa cơ sở đối ngoại và cơ sở nông lâm cũng không phát sinh quan hệ pháp luật hành chính bởi cũng không gắn liền với hoạt động chấp hành điều hành.
Chỉ khi nào giữa các cơ quan hành chính ngang cấp cũng có cùng địa vị pháp lý, có phối hợp với nhau găn với hoạt động chấp hành điều hành thì mới phát sinh quan hệ pháp luật hành chính.
Ví dụ: Bộ tài chính với Bộ Nông nghiệp. Bộ giáo dục và đào tạo. Bộ giao thông vận tải. Do bộ tài chính là cơ quân tổng hợp nắm giữ quyền thu chi và phân bổ ngân sách
tới các bộ, cơ quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính gắn với hoạt động chấp hành điều hành chung của chính phủ nen giữa bộ tài chính vad các bộ khác sẽ thường phát sinh quan hệ pháp luật hành chính.
Giữa Bộ kế hoạch và đầu tư với các Bộ khác của chính phủ, do là bộ có chức năng tổng hợp là hàng năm đều xét duyệt các chi tiêu phân bổ với các Bộ khác nên gắn liền với quyền và nghĩa vụ của các bộ liên quan đến hoạt động chấp hành điều hành chính phủ nên sẽ phát sinh quan hệ pháp luật hành chính
Ví dụ: Giữa 2 UBDN cùng cấp như UBND xã X và UBND xã y là 2 cơ quan hành chính cùng cấp nhưng không xảy ra quan hệ pháp luật hành chính vì ở đây không gắn liền với hoạt động chấp hành điều hành hoặc giữa UBND tỉnh Lạng sơn với UBND tỉnh Minh Hải cũng vậy đều là cơ quan hành chính ngang cấp nhưng không phát sinh quan hệ pháp luật hành chính vì không gắn với hoạt động chấp hành điều hành.
Giữa Bộ khoa học công nghệ và Môi trường với Bộ nôi vụ, Bộ Quốc phòng cũng không phaỉ lúc nào cũng phát sinh quuan hệ pháp luật hành chính vì không gắn với hoạt động chấp hành điều hành
Giữa Sở đối ngoại và Sở Nông Lâm cũng không phát sinh quan hệpháp luật hành chính bởi cũng không gắn với hoạt động chấp hành điều hành.
Chỉ khi nào giiữa các cơ quan hành chính ngang cấp có quyền địa vị pháp lý, có phối hợp với nhau gắn với hoạt động chấp hành điêù hành thì mới phát sinh quan hệ pháp luật hành chính.
ví dụ: Bộ tài chính với Bộ nông nghiệp, Bộ giáo dụcvà Đào tạo. Bộ giao thông vận tải...Do Bộ tài chính là cơ quan tổng hợp nắm giữ quyền thu chi và phân bổ ngân sách tới các bộ, các cơ quan khác liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ pháp luật hành chính gắn với hoạt động chấp hành điều hành chung của chính phủ nên giữa bộ tài chính và các bộ khác thường phát sinh quan hệ pháp luật hành chính.
Hoặc giữa Bộ kế hoạch và đầu tư với các bộ khác của chính phủ. Đó là Bộ có chức năng tổng hợp là hàng năm đều xét duyệt các chỉ tiêu phân bổ tới các bộ khác nên gắn liền vì quyền và nghĩa vụ của các bộ liên quan đến hoạt động chấp hành điều hành của chính phủ nên sẽ phát sinh quan hệ pháp luật hành chính.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Để vào phân tích các yêu cầu của việc áp dụng quy pham pháp luật hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính trước hết chúng ta cần phải biết rằng: Quy phạm pháp luật hành chính là những nguyên tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chủ yếu để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chấp hành điều hành, có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các đối tượng có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước.
Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính là việc cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào pháp luật hiện hành để giải quyết các công việc cụ thể pháp sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính khác với việc chấp hành quy phạm pháp luật hành chính, Hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính thường là sự kiện pháp lý làm phát sinh thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật hành chính cụ thể vì vậy hoạt động áp dụng quy phạm phapppps luật hành chính đòi hỏi tuân theo những yêu cầu sau:
1/ Việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải đúng với nội dung và mục đích của quy phạm pháp luật hành chính. Bởi vì nếu áp dụng sai nội dung thì hoạt động đó trái với pháp luật. Nêúu chỉ quan tâm đến nội dung mà không chú ý đến mục đích của chúng thì khi áp dụng sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn. Không mở rộng được dân chủ, không kích thích được tính sáng tạo của quần chúng nhân dân. không góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức pháp luật XHCN ví dụ: Khi áp dụng các quy phạm pháp luật hành chính về xử phạt hành chính để xử lý đối với người vi phạm thì cơ quan có thẩm quyền xử phạtphải cân nhắc lựa chọn hình thức xử phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Nếu chỉ chú trọng sử dụng hình phạt trên ( thậm chí mức cao) đối với mọi hành vi vi phạm hành chính thì việc sử lý không đạt được, mục đích của pháp luật nước ta là giáp dục và cảm hoá chứ không phải là trừng trị người vi phạm.
2/ áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền. Thẩm quyền này được quy định trong những văn bản pháp luật khác nhau đối với từng công việc cụ thể. Do vây chỉ có các cơ quan có thẩm quyền mới được áp dụng luật. Nếu việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính được thực hiện bởi một chủ thể không có thẩm quyền thì việc áp dụng đó không có hiệu lực thi hành và người áp dụng phảo chịu trách nhiệm pháp lý trước nhà nước Ví dụ: Người không có thẩm quyền ra quyết định về giải quyết đơn tố cáo của công dân. Quyết định này không có hiệu lực kể từ khi ban hành và gười đưa ra quyết định này phải chịu trach nhiệm pháp lý trước nhà nước.
3/ áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. Đối với mỗi cômg việc cụ thể phát sinh trong quản lý hành cchính nhà nước, pháp luật hành chính đều đã quy định các thủ tục cần thiết cho quá trình áp dụng pháp luật. Nếu vi phạm vào các quy định về các thủ tục đó các cơ quan có thẩm quyền khó có thể giải quyết một cách đúng đắn trong các công việc đã phát sinh. Ví dụ: Để giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân một cách đúng đắn và nhanh chóng. Pháp lệnh khiếu nại tố cáo của công dân đã quy địng cụ thể cề thủ tục nhận đơn, trả lời người có đơn.
4/ áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được nhanh chóng trong thời hạn pháp luật quy định và trả lpì công khai chính thức kết quả giải quyết cho các đối tượng có liên quan. Qut định thời gian cần thiết cho việc giải quyết cho từng công việc cụ thể. Nhà nước buộc cơ quan co thẩm quyền cho việc áp dụng quy phạm pháp luật hành chính, phải nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc của các cơ quân đó nhằm bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan. Việc trả lời công khai, chính thức bằng văn bản nhằm mục đích hạn chế những tuỳ tiện cũng như chống vi phạm trong quá trình áp dụng quy phạm pháp luật hành chính giúp cho nhân dân có thể tham gia rộng rãi voà việc giám sát hoạt động bộ máy nhà nước.
5/ Kết quả áp dụng quy phạm pháp luật hành chính phải được đảm bảo thực hiện trong thực tế nếu không hoạt động áp dụng quy phạm pháp luật hành chính sẽ trở thành vô nghĩa và làm giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước.cần phỉa sử dụng nhiều biện pháp và phương tiện khác nhau kể cả bộ máy cưỡng chế để bắt buộc các đối tượng có liên quanphải thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật hành chính, như vây pháp luật mới thực hiện triệt để được, tôn trọmh và tăng cường được pháp chế XHCN.
Lời giải
Mệnh đề trên là không đúng. Như ta đã biết. Chủ thể của quân hệ hành chính là những bên tham gia vào pháp luật hành chính có năng lực chủ thể, mang quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật.
Chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính có thể là cá nhân hay tổ chức. Nếu là cá nhân có thể là công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch. Nếu là tổ chức có thể là cơ quan nhà nước. Các tổ chức xã hội tổ chức kinh tế của Việt Nam và người nước ngoài.
Cá nhân tổ chức muốn trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật hành chính phải có năng lực chủ thể. Mà năng lực chủ thể bao gồm:
Năng lực pháp lý hành chính
Năng lực pháp lý hành chính là khả năng pháp luật hành chính quy định cho cá nhân tổ chức có thể được hưởng hoặc phải làm những nghiã vụ nhấ định trong quản lý hành chính nhà nước.
Năng lực hành vi hành chính
Năng lực hành vi hành chính là khả năng của mọi người được nhà nước thừa nhận mà với khả năng này người đó có thể bằng hành vi của mình gánh vác nghĩa vụ và hưởng các quyền hành chính một cách độc lập.
Từ đó ta có thể rút ra mọi công dân có năng lực chủ thể thì có thể trở thành chủ thể.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.