Hãy chỉ ra các giai đoạn thể hiện bước tiến trong nhận thức, những dấu mốc cơ bản trong quá trình hình thành, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh?
Câu hỏi trong đề: 122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh được trải qua 5 giai đoạn:
Giai đoạn trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước.
Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.
Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng.
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện.
Những bước tiến trong nhận thức, những dấu mốc cơ bản trong quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện trong các giai đoạn sau:
A) Giai đoạn trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước
Xuất thân trong một gia đình nhà nho yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã được tiếp nhận truyền thống yêu nước, nhân nghĩa của dân tộc; hấp thụ vốn văn hóa Quốc học, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây; chứng kiến cuộc sống khổ cực, điêu đứng của nhân dân và tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh đã để lại trong Người những ấn tượng sâu sắc, nung nấu lòng căm thù và thôi thúc Người đi tìm đường cứu nước. Hành trang ra đi của Nguyễn Tất Thành là tri thức ban đầu rất quan trọng về văn hóa Đông, Tây và lòng yêu nước nhiệt thành với chí hướng rõ rệt trên cơ sở phê phán các con đường cứu nước của các nhà yêu nước trước đó. Nhờ thế, Người đã tìm được hướng đi đúng, đích đi đúng, cách đi đúng để sớm đi tới thành công.
B) Giai đoạn từ năm 1911 đến năm 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Ngày 05/6/1911, Nguyễn Tất Thành với tên gọi Văn Ba đã lên tàu Latouche Trévilles để ra đi tìm đường cứu nước. Thời kỳ này, Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp các châu lục để tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới và khảo sát cuộc sống của nhân dân các dân tộc bị áp bức.
Năm 1911, Người đến Pháp, tiếp đó sống ở Mỹ từ năm 1912 đến năm 1913, sống ở Anh từ năm 1913 đến năm 1917, cuối năm 1917 Người trở về Pháp. Cuộc hành trình đã giúp Người nhận ra cội nguồn mọi sự đau khổ của nhân loại ở ngay những nước chính quốc.
Năm 1919, thay mặt những người yêu nước Việt Nam ở Pháp, Người gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam để đòi quyền tự do, dân chủ, bình đẳng cho các dân tộc. Bản yêu sách tuy không được chấp nhận nhưng nó giúp Người hiểu được rằng, muốn được giải phóng không thể bằng con đường thương lượng, đàm phán mà phải bằng con đường khác.
Tháng 7/1920 được tiếp xúc với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Việc tiếp xúc với Luận cương của V.I. Lênin đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong tư duy Hồ Chí Minh về mọi vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, đã giải đáp trúng điều trăn trở, tìm kiếm của Hồ Chí Minh. Người đã tìm thấy ở đó câu Đáp án: bức thiết nhất cho cả dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX là: Làm thế nào có thể giành được độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi người?
Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc tế Cộng sản và đây cũng là sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu bước chuyển về chất trong tư tưởng của Người: từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản. Như vậy, thời kỳ này Hồ Chí Minh đã có sự chuyển biến vượt bậc về tư tưởng, từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc tiến lên thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, từ một chiến sĩ chống thực dân trở thành một chiến sĩ cộng sản.
C) Giai đoạn từ năm 1921 đến năm 1930: Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam
Đây là thời kỳ hoạt động thực tiễn và lý luận cực kỳ sôi nổi và phong phú của Nguyễn Ái Quốc trên đất Pháp (1921 - 1923), Liên Xô (1923 - 1924), Trung Quốc (1924 - 1927), Thái Lan (1928 - 1929). Trong khoảng thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã được hình thành về cơ bản.
Hoạt động thực tiễn:
Trong thời gian sống ở Pháp (1921 - 1923), Nguyễn Ái Quốc hoạt động với cương vị là Trưởng tiểu ban Đông Dương trong Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa, xuất bản tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin vào các nước thuộc điạ.
Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc sang Mátxcơva dự Hội nghị Quốc tế Nông dân và được bầu vào đoàn chủ tịch của Hội. Sau đó Người tiếp tục tham dự các đại hội quốc tế cộng sản lần thứ V và các đại hội quần chúng khác: Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công hội đỏ và được học lớp bồi dưỡng tại trường Đại học Phương Đông.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên, mở lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ chính trị đưa về nước hoạt động.
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản trong nước thành Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp soạn thảo Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hoạt động lý luận:
Những bài viết của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này như: Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925), những bài viết trên báo chí của Đảng Cộng sản Pháp, cuốn Đường cách mệnh (năm 1927) đã thể hiện những quan điểm lớn, độc đáo, sáng tạo về con đường cách mạng Việt Nam, có thể tóm tắt như sau:
Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải đi theo con đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, phải kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có quan hệ mật thiết với nhau. Cách mạng thuộc địa không lệ thuộc vào cách mạng chính quốc mà có tính chủ động, độc lập. Cách mạng thuộc địa có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng ở chính quốc và giúp cho cách mạng ở chính quốc trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn.
Cách mạng thuộc địa trước hết là “dân tộc cách mệnh” đánh đuổi thực dân, đế quốc xâm lược, giành độc lập, tự do. Giải phóng dân tộc là việc chung của cả dân chúng; phải tập hợp lực lượng dân tộc thành một sức mạnh to lớn để chống đế quốc và tay sai. Phải đoàn kết và liên minh với các lực lượng đế quốc, song phải nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, không được ỷ lại chờ đợi ở sự giúp đỡ của quốc tế.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, của cả dân tộc. Phải tổ chức quần chúng, lãnh đạo và tổ chức đấu tranh bằng các hình thức và khẩu hiệu thích hợp.
Phương pháp đấu tranh để giành chính quyền là sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng và có thể bằng phương pháp khởi nghĩa dân tộc. Cách mạng muốn thành công trước hết phải có đảng cách mạng lãnh đạo, vận động và tổ chức quần chúng đấu tranh.
Như vậy, toàn bộ con đường của cách mạng Việt Nam đã được thể hiện khá rõ trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng đã kết hợp nghiên cứu xây dựng lý luận với tuyên truyền tư tưởng giải phóng dân tộc, vận động tổ chức quần
chúng đấu tranh, xây dựng tổ chức cách mạng, chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Hồ Chí Minh trong những năm 20 của thế kỷ XX được truyền bá vào Việt Nam, làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp ở Việt Nam trở thành một phong trào tự giác, dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng.
D) Giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945: Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng Tư tưởng của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam thể hiện trong Hội nghị thành lập Đảng bị quan điểm tả khuynh trong Quốc tế Cộng sản (Đại hội VI) phê phán. Theo chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, Trần Phú về triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 10/1930) phê phán quan điểm của Nguyễn Ái Quốc ở Hội nghị thành lập Đảng và ra quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng..., đặc biệt là ở việc xác định lực lượng, bước đi, phương thức tiến hành cách mạng, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trên cơ sở xác định chính xác con đường cần phải đi của cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã kiên trì bảo vệ quan điểm của mình về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, về cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa và cách mạng vô sản, chống lại những biểu hiện tả khuynh và biệt phái trong Đảng.
Trước tình hình thế giới mới (chủ nghĩa phát xít, nguy cơ chiến tranh thế giới), Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (năm 1935) đã nhìn nhận một loạt vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng thế giới, bắt đầu từ việc tự phê bình về khuynh hướng “tả”, cô độc biệt phái, bỏ rơi ngọn cờ dân tộc và dân chủ đến chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, chủ trương thành lập mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, đòi quyền dân sinh, dân chủ. Chính vì vậy, tháng 9/1938, Nguyễn Ái Quốc nhận được quyết định điều động về mặt trận Đông Dương để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, trực tiếp chỉ đạo Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa I (tháng 5/1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng điền địa, xoá bỏ vấn đề Liên bang Đông Dương, lập ra Mặt trận Việt Minh, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đó cũng là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Như vậy, trong thời gian này, Hồ Chí Minh đã triệu tập Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng cương lĩnh, định ra đường lối cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản, tổ chức quần chúng đấu tranh. Trong mấy năm đầu của những năm 30, Người kiên trì giữ vững quan điểm cách mạng của mình, vượt qua khuynh hướng “tả” đang chi phối Quốc tế Cộng sản, chi phối Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phát triển thành chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, xác lập tư tưởng độc lập, tự do dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đ) Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển và hoàn thiện
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dân tộcViệt Nam bị buộc phải đối đầu với hai đế quốc to là Pháp và Mỹ.
Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, với đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội và đại đoàn kết toàn dân, với phương châm kháng chiến gắn liền với kiến quốc (trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 - 1954) và tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc những năm 1954 - 1969; với sự giúp đỡ của bạn bè thế giới, Nhân dân Việt Nam chẳng những đã đánh thắng bọn đế quốc xâm lược, mà còn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm cơ sở cho sự nghiệp thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong hoàn cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục được bổ sung, phát triển và hoàn thiện trên một loạt vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam như: đường lối vừa kháng chiến, vừa kiến quốc; đường lối chiến tranh nhân dân “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình làchính”; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến quá độ lên chủ nghĩa xã hội không trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa trong điều kiện đất nước bị chia cắt và có chiến tranh; về vấn đề xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền...
Hot: Giáo án năng lực số, PPT AI khởi động lớp 1-12 (Update 2026) (chỉ từ 150k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
1. Quan điểm của Hồ Chí Minh "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"
Chứng kiến sự thất bại của những phong trào yêu nước Việt Nam theo hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Hồ Chí Minh đã quyết định sang phương Tây để tìm con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc theo phương hướng mới.
Sau khi khảo sát cách mạng tư sản Pháp, cách mạng tư sản Mỹ và các cuộc cách mạng tư sản khác, Hồ Chí Minh đã quyết định không chọn con đường cách mạng tư sản. Bởi vì: “cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không triệt để, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó bóc lột công - nông, ngoài thì nó áp bức các thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức, bóc lột”.
Sau khi nghiên cứu kĩ sự thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam... Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.
Năm 1920, sau khi nghiên cứu bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và quy luật phát triển của thời đại.
Khi thành lập Đảng đầu năm 1930, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, ở nước ta phải làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Nghĩa là làm cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi rồi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh vạch rõ trong cách mạng giải phóng dân tộc có hai nhiệm vụ chiến lược. Đó là: đánh đổ đế quốc Pháp để giải phóng dân tộc; đánh đổ địa chủ phong kiến để mang lại ruộng đất cho nông dân. Trong hai nhiệm vụ đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, còn nhiệm vụ dân chủ, đánh đổ địa chủ phong kiến, cần rải ra thực hiện từng bước và phải phục tùng nhiệm vụ giải phóng
dân tộc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam là sự vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới.
2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới hiện nay
Luận điểm "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" là một luận điểm nền tảng của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; định hướng phương hướng, đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, Đảng đã đề ra quan điểm "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Quan điểm này được Đảng ta phát triển trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, đặc biệt là được thể hiện rất rõ trong Đại hội II của Đảng năm 1951, khẳng định cách mạng Việt Nam mang tính chất cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tiếp tục khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản với việc xác định nhiệm vụ của cách mạng cả nước là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, giải phóng miền Nam, đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi thống nhất đất nước, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, năm 1976, tại Đại hội IV Đảng ta chủ trương đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng tiếp tục khẳng định con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định mục tiêu lớn của thời đại là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Việc Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.
Bằng việc nêu lên luận điểm mang tầm chân lý thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú lý luận Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phổ biến đối với mọi dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Trong bài “Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh”, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Trường Đảng Êtiôpia Têshôm Kêbêđe đã viết: “Những tư tưởng của Hồ
Chí Minh có ảnh hưởng to lớn trong việc khuyến khích và cung cấp tri thức cho các lãnh tụ của giai cấp công nhân và các nhà cách mạng ở Á, Phi và Mỹ Latinh giải quyết một cách triệt để vấn đề dân tộc”.
Hiện nay, tuy cách mạng vô sản thế giới đang đứng trước những thách thức to lớn do sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa tư bản; không ít dân tộc gặp khó khăn trong việc chọn định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội do tác động tiêu cực của tình hình sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Tuy vậy,
nhiều nước ở châu Á, Phi, Mỹ Latinh vẫn giương ngọn cờ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội dưới nhiều hình thức. Trong khi một số mô hình chủ nghĩa xã hội ở một số nước Đông Âu sụp đổ, một số mô hình chủ nghĩa xã hội mới - sản phẩm của quá trình đổi mới chủ nghĩa xã hội - như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba với những thành tựu to lớn, khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội đổi mới, trở thành tấm gương sáng để các dân tộc khác noi theo. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc dù có khó khăn, phức tạp, nhưng theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội.
Chủ nghĩa tư bản đã từng có vai trò lịch sử trong các thế kỷ trước, cho dù hiện nay vẫn còn khả năng tồn tại do biết lợi dụng sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ và bóc lột các nước thuộc thế giới thứ ba, nhưng nó đã bộc lộ những khiếm khuyết và mâu thuẫn nội tại không thể giải quyết; đã và đang bộc lộ những hạn chế
không thể khắc phục nổi trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc, giai cấp, vấn đề xóa bỏ chế độ người bóc lột người, chiến tranh, bảo vệ môi trường, bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội, chăm lo phát triển con người, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc.
Do bản chất của mình, ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn không từ bỏ chính sách thực dân xâm lược với nhiều biến tướng mới rất tinh vi và xảo quyệt nhằm bóc lột các nước kém phát triển, chậm phát triển. Những cuộc chiến tranh và can thiệp quân sự của các nước phương Tây vào các quốc gia độc lập có chủ quyền trong những thập niên 90 của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt gần đây, cuộc tấn công quân sự của Liên quân do NATO lãnh đạo chống Libi, cho dù cố che đậy với những lý do gì, thì về thực chất vẫn là các cuộc xâm lược nhằm mục đích phân chia lại thị trường thế giới, giành giật tài nguyên, môi trường, duy trì hoặc áp đặt ảnh hưởng của họ lên các nước đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình, ngăn cản quá trình vận động, phát triển lên chủ nghĩa xã hội của các quốc gia đã giành được độc lập, buộc các quốc gia này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản.
Bài học lịch sử trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI cảnh tỉnh chúng ta rằng, còn chủ nghĩa tư bản là còn nguy cơ bị xâm lược; độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất đất nước còn bị đe dọa. Do đó, chủ nghĩa tư bản quyết không phải là sự lựa chọn của nhân loại trong thời đại ngày nay. Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 100 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được ở chủ nghĩa Mác - Lênin trên hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của mình.
Lời giải
Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, nên Quốc tế Cộng sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản năm 1928 đã thông qua Những luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Trong đó, có đoạn viết rằng: chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Quan điểm này có tác động không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc.
Quán triệt tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm, Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc - mối quan hệ bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau.
Năm 1924, tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”. Người đã khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Thực tế cho thấy, thuộc địa có một vị trí, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc. Đó là nơi duy trì sự tồn tại, phát triển cho chủ nghĩa đế quốc. Người cho rằng: “Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc”, “Nếu thờ ơ về vấn đề cách mạng ở thuộc địa thì như là đánh rắn đằng đuôi”. Cho nên, cách mạng ở thuộc địa có vai trò rất lớn trong việc cùng với cách mạng vô sản ở chính quốc tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc.
Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người vạch rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: cách mạng thuộc địa chẳng những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể chủ động nổ ra và giành thắng lợi trước.
Vận dụng sáng tạo lí luận của C. Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Hỡi anh em ở các thuộc địa!... Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của C. Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.
-> Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã thành công vào những năm 1960, trong khi cách mạng vô sản ở chính quốc vẫn chưa nổ ra và thắng lợi, đã chứng minh hùng hồn luận điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo và có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc là hoàn toàn đúng đắn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.