Phân tích tính tất yếu và những quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Câu hỏi trong đề: 100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nghiên cứu sự phát triển của xã hội loài người, đặc biệt trên cơ sở phân tích mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản - mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng mang tính chất xã hội hóa, trong khi quan hệ sản xuất lại dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, C. Mác (1818 - 1883) và Ph. Ăngghen (1820 - 1895) đã phát hiện ra xu thế phát triển của xã hội loài người thông qua những kiến giải kinh tế, chính trị, xã hội. Đó là xã hội tư bản chủ nghĩa tất yếu sẽ bị thay thế bởi một xã hội mới mà các ông gọi là xã hội cộng sản chủ nghĩa, trong đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”.
Trong những điều kiện lịch sử mới, V.I. Lênin đã phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của C. Mác và Ph. Ăngghen, luận chứng một cách toàn diện khả năng đi tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa của các dân tộc thuộc địa, có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển. Trên nền lý luận chung đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh hội những vấn đề mấu chốt, cần thiết nhất cho nhân dân mình, dân tộc mình. Người khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự vận động khách quan của lịch sử, là một quá trình của sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất. Tinh thần của học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội được Hồ Chí Minh diễn giải một cách giản lược, hết sức dễ hiểu. Người viết: “Từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản, đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản) - nói chung thì loài người phát triển theo quy luật nhất định như vậy”. Người chỉ rõ: “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng của người, chế độ xã hội v.v.. cũng phát triển và biến đổi. Chúng ta đều biết từ đời xưa đến đời nay, cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử. Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thuỷ đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”. Xã hội loài người phát triển theo xu hướng đi lên, các xã hội trước tạo tiền đề để xã hội sau bước lên một hình thái cao hơn về chất lượng. Nếu chế độ tư bản chủ nghĩa tất yếu ra đời từ chế độ phong kiến thì chính chủ nghĩa tư bản cũng sẽ xác lập các tiền đề khách quan để tự phủ định chính nó. Theo Hồ Chí Minh, lôgíc phát triển xã hội cho thấy đã đến lúc chủ nghĩa tư bản mở đường cho sự ra đời một chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”.
Theo Hồ Chí Minh, chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới có độc lập thật sự và triệt để: “Trong thời đại ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”. Do đó, Người xác định: “Con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa của các dân tộc là con đường chung của thời đại, của lịch sử, không ai ngăn cản nổi”. Lựa chọn con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi đã giành được độc lập là sự lựa chọn đúng đắn và sáng suốt của Hồ Chí Minh. Con đường đó phù hợp với hoàn cảnh đất nước, với quy luật khách quan và với xu thế phát triển của lịch sử xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa xã hội là tất yếu cho những nước lạc hậu, chậm phát triển như các nước phương Đông, đặc biệt là Việt Nam để xây dựng nước nhà độc lập, Nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Tuy nhiên, tùy theo bối cảnh cụ thể mà thời gian, phương thức tiến lên chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia sẽ diễn ra một cách khác nhau. Căn cứ vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam, Người đã lý giải những vấn đề của phương thức quá độ gián tiếp theo loại hình phát triển rút ngắn. Tức là từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một sáng tạo độc đáo của Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội so với học thuyết Mác - Lênin.
Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Hồ Chí Minh đã giải thích về chủ nghĩa xã hội một cách rất cụ thể và dễ hiểu, với ngôn từ giản dị, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu nước mạnh”. Chủ nghĩa xã hội là “Không ngừng nâng cao đời sông vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. “Chủ nghĩa xã hội là mọi người dân được áo ấm cơm no, nhà ở tử tế, được học hành”. Hay, “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”. Như thế, chủ nghĩa xã hội không phải là cái gì xa xôi, trừu tượng, tưởng tượng một cách không tưởng. Trái lại, chủ nghĩa xã hội sinh động, hấp dẫn và thu hút hàng triệu triệu người. Vì chủ nghĩa xã hội là do lao động của đông đảo quần chúng sáng tạo ra, là kết quả sinh động thực tế hàng ngày để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Khi đưa ra những quan niệm về chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cũng thể hiện nó trong các mặt cụ thể của đời sống xã hội, cụ thể:
+ Trong lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh nhấn mạnh mặt bản chất nhất của chủ nghĩa xã hội, đó là xây dựng nền dân chủ mới: nền dân chủ của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chế độ dân chủ mới được thiết lập là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của cách mạng Việt Nam chống lại chế độ thực dân để giành được độc lập dân tộc. Người viết: “Đánh tan thực dân, giải phóng dân tộc, tranh lại thống nhất và độc lập, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ mới”. Người cho rằng, thực hiện dân chủ mới là “điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội” và “thực hiện hoàn toàn dân chủ mới (là bước đầu để tiến dần đến chủ nghĩa cộng sản)”. Điều đó cho thấy, chủ nghĩa xã hội không thể nảy sinh và phát triển bên ngoài dân chủ và dân chủ càng phát triển càng tạo điều kiện để tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Bản chất của nền dân chủ mới để đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản thể hiện trong tính nhân dân của nền dân chủ thông qua phương thức tổ chức hệ thống chính trị mà quan trọng nhất là xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng như thiết lập các điều kiện tốt nhất để Nhân dân có thể tham gia vào quản lý và xây dựng đất nước với vai trò là người chủ. Người viết: “... chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chế độ do nhân dân lao động làm chủ”. “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Đề cập tới vai trò của Đảng và Nhà nước, Người nói: “Đảng Lao động kiên quyết lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động... thực hiện dân chủ mới và tiến dần đến chủ nghĩa xã hội (cộng sản)”. Hay “Đảng và Nhà nước ta dùng lực lượng của nhân dân để xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là chủ nghĩa xã hội”. Như vậy, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội do Nhân dân lao động làm chủ. Đảng và Nhà nước phải ra sức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, phát huy tính tích cực, chủ động của Nhân dân nhằm huy động tối đa nhân tài, vật lực của toàn dân vào sự nghiệp đó.
+ Ở lĩnh vực kinh tế, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh hai yếu tố: chế độ sở hữu (công cộng hoặc xã hội) và quan hệ phân phối. Người viết: “Chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v., làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”. Trong lần Đáp án: những câu hỏi của cử tri Hà Nội, Người nói: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý: Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm thì không được hưởng. Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nước giúp đỡ chăm nom”. Có thể thấy chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có phương diện kinh tế mà còn thể hiện cả ở phương diện chính trị, xã hội, thể hiện quan hệ giữa con người với con người là phải công bằng và bình đẳng. Khái niệm bình đẳng được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là thể hiện sự ngang bằng giữa người với người (“ai cũng phải lao động và có quyền lao động”) và nghĩa thứ hai là thể hiện sự ngang bằng giữa người và người trong mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ theo nguyên tắc, cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau. Điều đó thể hiện rõ tư tưởng nhân văn, nhân đạo cộng sản chủ nghĩa của Hồ Chí Minh.
+ Ở lĩnh vực văn hóa và con người, Hồ Chí Minh viết: Chủ nghĩa xã hội “gắn liền với sự phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân”. “Chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình”... Như vậy, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, con người được tạo mọi điều kiện để phát huy những khả năng vốn có của mình để cống hiến xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bài Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội, Người viết: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa... có tư tưởng và tác phong xã hội chủ nghĩa”. Trong khi nhấn mạnh nguồn lực con người như là nhân tố quyết định của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh hết sức chú ý đến mặt đạo đức, tinh thần, ý thức của con người. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, mọi người cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội. Theo Người, giác ngộ xã hội chủ nghĩa “không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể, ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua yêu nước,... tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm”. Nhưng muốn bồi dưỡng lý tưởng chính trị, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quần chúng lao động thì “Trước hết cán bộ phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc đã. Rồi cán bộ làm cho nhân dân hiểu để nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Khi đó cả xã hội mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được”. Điều đó cho thấy tính nhất quán của tư tưởng Hồ Chí Minh: luôn luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của cán bộ, đảng viên, của lớp người tiên tiến, biết nêu gương và dẫn dắt quần chúng, củng cố niềm tin cho họ vào thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Không ra sức tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, không đánh thắng chủ nghĩa cá nhân thì không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Vì “Muốn đánh thắng kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi chúng ta là chủ nghĩa cá nhân”.
Như vậy, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hệ thống những quan niệm toàn diện về chủ nghĩa xã hội. Đó là một xã hội phát triển cao về mọi mặt nhằm giải phóng sức lao động của con người, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân, hướng tới xây dựng một xã hội thông thái, văn minh, đạo đức. Những quan niệm đó hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, lý tưởng về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của học thuyết Mác - Lênin, phù hợp với nguyện vọng, yêu cầu bức xúc và cơ bản từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam, phù hợp với quy luật về con đường của cách mạng Việt Nam.
Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, coi đó là sự nghiệp có tính tất yếu của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra được các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân ta xây dựng, phản ánh bản chất của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Các đặc trưng này cơ bản trở lại với quan điểm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, cho thấy bản chất tốt đẹp của một chế độ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, con người và các môi quan hệ hợp tác trong và ngoài nước. Cái đích cuối cùng là giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, phát triển toàn diện cá nhân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Đồng thời, Đảng cũng đã có sự bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991). Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển nấm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hê hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Như vậy, mô hình của chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ đổi mới ở Viêt Nam chứa đựng khả năng mở rộng nội hàm, tiếp tục bổ sung những nét mới là kết quả của sự kết hợp hài hòa cái phổ biến với cái đặc thù, cái chung và cái riêng để tạo ra mô hình với tên gọi mô hình chủ nghĩa xã hội Viêt Nam. Mô hình ấy biểu hiên như một kết cấu tổng thể, ổn định tương đối, nó không phải là một mô hình khép kín và cứng nhắc. Nó thể hiên xu hướng gắn kết hợp tiến trình phát triển của chủ nghĩa xã hội với sự vận động không ngừng của nhân loại đi lên phía trước, kế thừa những thành tựu tiến bộ của loài người để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù, con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay vẫn còn muôn vàn khó khăn, thử thách; vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém, nhưng nhìn một cách tổng quát, khách quan, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn cần phải được khẳng định và trân trọng. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
-> Tất cả các đặc trưng mà Đảng Cộng sản Viêt Nam đưa ra qua các kỳ Đại hội Đảng đều ít nhiều đã được Hồ Chí Minh đề cập đến trong quá trình hoạt động cách mạng và lãnh đạo sự nghiêp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Đó chính là sự vận dụng và kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong điều kiên mới ở Viêt Nam. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Khi nói khái niệm tư tưởng là nói đến một hệ thống quan điểm, lý luận mang giá trị như một học thuyết được xây dựng trên một thế giới quan và phương pháp luận nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, phù
hợp với nhu cầu tiến hóa của thực tiễn, trở lại chỉ đạo và cải tạo thực tiễn. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh qua đời. Đảng Cộng sản Việt Nam sớm có sự nhìn nhận và đánh giá công lao của Hồ Chí Minh và vai trò tư tưởng của Người. Sự nhận thức đó của Đảng là cả một quá trình. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam (từ ngày 06/01/1930 đến ngày 07/02/1930) đã thông qua Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng. Những văn kiện này được coi là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh thể hiện những nội dung rất cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Từ khi Hồ Chí Minh về nước, chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5/1941 đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng năm 1951, tư tưởng của Người tiếp tục được khẳng định và được đưa vào chủ trương, đường lối của Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 02/1951), Đảng Lao động Việt Nam nêu rõ:“Đường lối chính trị, nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong và đạo đức Hồ Chủ tịch... Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”.
Trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Như vậy, lần đầu tiên Trung ương Đảng đã đánh giá Hồ Chí Minh là “Anh hùng dân tộc vĩ đại”.
Tiếp nối sự đánh giá ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (tháng 12/1976) nêu: “Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), Đảng khẳng định: “Đảng phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng”.
Tiếp theo đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) đã đánh dấu mốc quan trọng trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh “tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mỗi người Việt Nam là vô cùng gần gũi, gắn liền với tình cảm yêu thương vô hạn của nhân dân đối với Bác, bởi công lao to lớn và đạo đức cách mạng trong sáng của Người. Vì vậy, nói tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với thực tế cách mạng nước ta, phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta”. Đại hội cũng xác định: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội”.
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, công tác nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh được tiến hành nghiêm túc, thường xuyên và đạt được những kết quả quan trọng. Những kết quả nghiên cứu đó đã cung cấp những luận cứ khoa học, có sức thuyết phục để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX xác định khá toàn diện và hệ thống những vấn đề cốt yếu thuộc nội hàm khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại... Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Định nghĩa trên là một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng về tư tưởng Hồ Chí Minh, làm định hướng cho các nhà nghiên cứu tiếp tục đi sâu tìm hiểu về tư tưởng của Người, đặc biệt là xác định nội dung giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng, toàn dân ta.
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cho đến nay, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã tiếp tục khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị to lớn của tư tưởng đó đối với dân tộc và nhân loại. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006) khi đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta 76 năm qua đã khẳng định rằng, tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng đó đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là sức mạnh tập hợp và đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hôm nay và mai sau”. Trong các kỳ Đại hội sau đó, Đảng luôn khẳng định công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và khẳng định tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là những nhân tố không thể thiếu trong tư tưởng và hành động của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (tháng 01/2016) của Đảng nhấn mạnh: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, Đảng chủ trương học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn hệ thống chính trị. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhận định: “Việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đạt kết quả bước đầu quan trọng”. Tuy nhiên, việc này “chưa đều, chưa đi vào chiều sâu ở nhiều ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị; một số nơi thực hiện còn mang tính hình thức”. Vì vậy, Đại hội quyết định: “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đó cũng chính là tinh thần của Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.
Lời giải
Khái niệm tư tưởng HCM :
“ Tư tưởng HCM là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CM VN, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của vật dụng sáng tạo và phát triển chủ nghhiax Mác-Lenin vào đk cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tin hoa dân tộc và trí tuệ thời đại và nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”.
Phân tích khái niệm tư tưởng HCM:
Một là: tư tưởng HCM là hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của CM VN, từ đó phản ánh những vấn đề có tính quy luật của cách mạng VN.
Hai là: nhấn mạnh giá trị cơ bản nhất trong quá trình hình thành và phát triển của tư tưởng HCM là chủ nghĩa Mác- Lenin; đồng thời tư tưởng HCM còn bắt nguồn từ việc HCM tiếp thu các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại.
Ba là: khẳng định tư tưởng HCM là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta,., mãi mãi soi đường cho sự nghiệp CM của nhân dân ta. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư tưởng HCM là một bồ phận cấu thành làm nên nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và CM VN.
Ý nghĩa của việc học tập môn tư tưởng HCM.
Góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận:
Thông qua học tập, tư tưởng HCM về những vấn đề cơ bản của CM, trau dồi tư tưởng biện chứng tư vật, bồi dưỡng cũng cố lập trường quan điểm CM trên nền tảng CM Chủ nghĩa Mác-Lenin; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhận thức đúng đắn quan điểm đường lối của Đảng để góp phần nhận thức và đấu tranhphê phán những quan điểm sai trái, đồng thời biết vận dụng tư tưởng HCM vào giải quyết những vấn đề lý luận đặt ra trong cuộc sống.
Giáo dục và thực hành đạo đức CM, củng cố niềm tin khoa học gắn liền với trau dồi tình cảm cách mạng, bồi dưỡng lòng yêu nước:
Nghiên cứu môn học tư tưởng HCM có điều kiện tốt để thực hành dạo đức CM “ cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, chống chủ nghĩa cá nhân , chống “giặc nội xâm” để lập thân, lập nghiệp, sống có ích cho xã hội, yêu và làm những điều thiện ,ghét và tránh cái xấu, cái ác, nâng cao về lòng tự hào về đất nướcVN,về chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, về HCM, về ĐCSVN. Đồng thời, nâng cao bản lĩnh chính trí, kiên định lập trường cách mạng và tự giác thực hiện trách nhiệm công dân, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện bản thân mình theo tư tưởng, đạo đức, phong cách theo HCM, hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình gắn liền với trau dồi tình cảm CM, đóng góp thiết thực và hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Xây dựng và rèn luyện phương pháp, phong cách công tác:
Qua nghiên cứu môn học tư tưởng HCM, người học có điều kiện vận dụng tốt hơn những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu vào việc xây dựng phương pháp học tập, tu dưỡng , rèn luyện phù hợp với điều kiện cụ thể của từng người, từng địa bạn. Người học có thể vận dụng phong cách tư duy, phong cách diễn đạt, phong cách làm việc, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt của HCM một cách khoa học , hiệu quả , mềm dẻo và biện chứng và thích hợp nhất để phát triển bản thân theo mục đích ích nước, lợi nhà.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.