khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

14/08/2026 73 Lưu

Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu, động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Quan điểm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Nói về mục đích của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, và do nhân dân tự xây dựng lấy”. Hay, “... chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc”. Trong lần nói chuyện với Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội, Người nói: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”. Với những quan niệm như trên, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh mục tiêu củachủ nghĩa xãhội là giải phóng nhân dân lao động thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Điều đó thể hiện tính ưu việt hơn hẳn của chủ nghĩa xã hội so với các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử, chỉ ra chức năng xã hội của nó là giải phóng con người một cách toàn diện, theo mọi cấp độ: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Mục tiêu mà suốt cuộc đời Hồ Chí Minh luôn hướng tới là giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và hạnh phúc cho Nhân dân. Người nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Khát vọng của Người cũng chính là khát vọng của tất cả mọi người dân yêu nước, là mục tiêu của cách mạng, của dân tộc Việt Nam.

Bên cạnh mục tiêu chung, tổng quát của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những mục tiêu cụ thể:

+ Về chính trị: Xây dựng chế độ chính trị dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân.

+ Về kinh tế: Xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, đời sống vật chất của Nhân dân ngày được cải thiện.

+ Về văn hóa: Xây dựng nền văn hóa mới, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.

+ Về xã hội: Xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người, các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện; đạo đức, lối sống phát triển lành mạnh.

-> Những mục tiêu trên thể hiện xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam xây dựng là một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của mình trong sự phát triển hài hòa với lợi ích chung của tập thể và xã hội.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về động lực của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Theo Người, động lực quan trọng và quyết định của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhân tố con người. Phát biểu tại Hội nghị Trung ương 7 (mở rộng) khóa III bàn về kế hoạch 5 năm phát triển công nghiệp, Người đặc biệt nhấn mạnh vấn đề con người. Nhà máy cũng cần có thêm, có sớm, nhưng cần hơn là con người, là sự phấn khởi của quần chúng. Làm tất cả là do con người. Do đó, “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Con người xã hội chủ nghĩa vừa là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội mới, vừa là kết quả của quá trình hoạt động tích cực, chủ động của hàng triệu người trong xã hội. Vì vậy, hệ thống biện pháp tác động vào tính tích cực của con người, tạo động lực cho sự phát triển của chủ nghĩa xã hội được Hồ Chí Minh đề cập đến trên cả hai bình diện cộng đồng và cá nhân.

Ở phương diện cộng đồng, cần phát huy sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc.

Đây là động lực chủ yếu để phát triển đất nước.

+ Con người trên bình diện cộng đồng bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân, các tổ chức và đoàn thể, các dân tộc và tôn giáo, đồng bào trong nước và kiều bào nước ngoài... Theo Hồ Chí Minh, để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội phải ra sức phát huy sức mạnh của khôi đại đoàn kết dân tộc. Bởi xây dựng chủ nghĩa xã hội không chỉ là vấn đề giai cấp mà còn là vấn đề dân tộc, không phải là sự nghiệp riêng của công nông mà là sự nghiệp chung của toàn dân tộc, có xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mới tăng cường được sức mạnh dân tộc, mới giữ vững được độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh nhiều lần chỉ rõ chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng; chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của Nhân dân, do Nhân dân tự xây dựng lấy. Người nói: “Ai xây dựng chủ nghĩa xã hội? Nói chung là những người lao động trong xã hội gồm công nhân, nông dân, trí thức cách mạng, v.v., nhưng lực lượng chủ chốt xây dựng chủ nghĩa xã hội là công nhân”. Từ đó, Người khẳng định: “Chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân, động viên lực lượng của nhân dân, để phấn đấu hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”.

+ Ở phương diện cá nhân, cần phát huy sức mạnh của con người với tư cách cá nhân người lao động. Sức mạnh của cộng đồng được hình thành từ sức mạnh của cá nhân và chủ yếu thông qua sức mạnh của cá nhân. Do đó, muốn phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc, xét đến cùng, phải tìm ra các biện pháp để khơi dậy và phát huy tính tích cực của mỗi cá nhân. Nói phát huy sức mạnh của con người, của mỗi cá nhân, tức là nói đến hệ thống các biện pháp nhằm tác động vào tính tích cực xã hội của con người với tư cách là chủ thể sáng tạo của lịch sử. Nếu con người là một cấu trúc phức tạp, nhiều mặt, nhiều thành phần thì hệ thống biện pháp tác động vào tính tích cực xã hội của con người để tạo ra sự phát triển cũng rất đa dạng, phong phú.

-> Một là, các động lực chính trị - tinh thần. Hồ Chí Minh chú trọng trước hết đến giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa... Người cho rằng, phải chăm lo “phát triển tinh thần yêu nước của dân ta”, làm cho lòng yêu nước của mỗi người không cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm mà phải được đem ra thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù,... lại có tinh thần yêu nước nồng nàn. Chúng ta cần phát huy truyền thống và tinh thần ấy”. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội “Cần có ý thức giác ngộ xã hội chủ nghĩa cao, một lòng một dạ phấn đấu cho chủ nghĩa xã hội”. Theo Hồ Chí Minh, giác ngộ xã hội chủ nghĩa “không phải là cái gì cao xa mà cụ thể là ý thức lao động tập thể,ý thức kỷ luật, tinh thần thi đua  yêu nước.. tinh thần đoàn kết tương trợ, tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, không sợ khó, ý thức cần kiệm”. Nhưng muốn bồi dưỡng lý tưởng chính trị, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa cho quần chúng lao động thì “Trước hết cán bộ phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lập trường phải rõ ràng, vững chắc đã. Rồi cán bộ làm cho nhân dân hiểu để nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Khi đó cả xã hội mới tiến lên chủ nghĩa xã hội được”. Điều đó cho thấy tính nhất quán của tư tưởng Hồ Chí Minh: luôn luôn nhấn mạnh vai trò quan trọng của cán bộ, đảng viên, của lớp người tiên tiến, biết nêu gương và dẫn dắt quần chúng, củng cố niềm tin cho họ vào thắng lợi cuối cùng của chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh của con người được huy động vào sự nghiệp cách mạng bao gồm cả văn hóa, đạo đức, khoa học - kỹ thuật, pháp luật và nhiều nhân tố tinh thần khác. Để tác động vào tính tích cực xã hội của con người, cũng phải biết huy động một cách đồng bộ những biên pháp đó.

-> Hai là, các động lực lợi ích, trước hết là lợi ích kinh tế. Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã rất thành công trong việc huy động cả sức mạnh lý tưởng lẫn động lực lợi ích của toàn thể cộng đồng, cũng như của mỗi cá nhân. Khi nói về vai trò của động lực vật chất, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tục ngữ có câu: “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời. Lại có câu: “Có thực mới vực được đạo”, nghĩa là không có ăn thì chẳng làm được việc gì cả. Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân... cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”.

Coi trọng lợi ích cá nhân chính đáng của người lao động nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt nó trong mối quan hệ thống nhất với lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Người nói: “Lợi ích cá nhân là nằm trong lợi ích của tập thể, là một bộ phận của lợi ích tập thể. Lợi ích chung của tập thể được đảm bảo thì lợi ích riêng của cá nhân mới có điều kiện để được thỏa mãn... Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi lợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”. Đó là một quan điểm đúng đắn và cách mạng. Nó không chỉ đúng trên phương diện đạo đức mà đúng cả trên phương diện lịch sử. Trong điều kiện bình thường, lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của mình, nhưng ở những bước ngoặt của lịch sử, đối với đại đa số nhân dân, thì cái riêng trùng hợp với cái chung, cái chung không giải quyết thì cái riêng cũng không thể tồn tại và phát triển được. Nhận thức sâu sắc, đúng đắn điều đó sẽ là cơ sở để giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng.

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc thực hiện công bằng xã hội trong phân phối lợi ích với tư cách là một động lực của chủ nghĩa xã hội. Người yêu cầu phải chống chủ nghĩa bình quân, cào bằng trong phân phối. Con người có trí tuệ, năng lực thể chất khác nhau, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”. Người cho rằng phải biết sử dụng thích đáng các biện pháp kích thích lợi ích vật chất. “Phải thực hiện ba khoán, một thưởng. Nếu ai thực hiện vượt mức quy định thì được thưởng. Có như thế mới khuyến khích mọi người cố" gắng hơn nữa. Thưởng, phạt phải công bằng”. Hơn nữa, nếu làm xấu, làm hỏng, “có khi phải bồi thường lại cho Nhà nước. Chính phủ không phát lương cho người ngồi ăn không”.

Ngoài các động lực bên trong, do các nhân tố nội sinh tạo nên, theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải kết hợp được các nhân tố nội sinh với các nhân tố ngoại sinh (nhân tố bên ngoài). Một trong những sự kết hợp đó là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế trên lập trường của giai cấp công nhân...

Tuy nhiên, muốn khai thông những động lực của chủ nghĩa xã hội đồng thời phải nhận diện để khắc phục những lực cản kìm hãm sự phát triển ấy như: Chủ nghĩa tư bản và bọn đế quốc; thói quen và truyền thống lạc hậu; chủ nghĩa cá nhân. Đây chính là ba trở lực phải quét sạch để đưa cách mạng tiến lên.

Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước

Những quan niệm, nhận thức của Đảng ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI chẳng những đặt cơ sở cho sự hình thành lý luận đổi mới mà còn xây dựng những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như một cuộc cải biến cách mạng lâu dài, toàn diện và triệt để, có kế thừa, có phát triển. Đại hội xác định: “nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo”.

Tiếp nối những tư tưởng được đưa ra ở Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII nhấn mạnh: “Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hóa phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh”. Kế thừa và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về huy động sức mạnh tổng lực của toàn dân tộc trong tình hình mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng chỉ rõ, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải dựa vào nhiều động lực, nhưng “động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”.

Kế thừa và phát triển các Đại hội trước đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và chỉ rõ quá trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là “một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”. Đồng thời Cương lĩnh cũng đã chỉ ra con đường để xây dựng chủ nghĩa xã hội với lộ trình, bước đi phù hợp: Phấn đấu đến năm 2020, đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, để “đến giữa thế kỷ XXI... xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và đến khi kết thúc thời kỳ quá độ, “xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một trong những điểm mới, bổ sung quan trọng của Đảng về bước đi của thời kỳ quá độ ở Việt Nam.

Nhờ nhận thức rõ động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên qua 35 năm đổi mới, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân và sự giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhân dân ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới”, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Những thành tựu về đổi mới cho chúng ta niềm tin về sự lựa chọn đúng đắn của mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020, đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020, đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

1. Quan điểm của Hồ Chí Minh "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"

Chứng kiến sự thất bại của những phong trào yêu nước Việt Nam theo hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản ở cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, Hồ Chí Minh đã quyết định sang phương Tây để tìm con đường cứu nước, giải phóng
dân tộc theo phương hướng mới.

Sau khi khảo sát cách mạng tư sản Pháp, cách mạng tư sản Mỹ và các cuộc cách mạng tư sản khác, Hồ Chí Minh đã quyết định không chọn con đường cách mạng tư sản. Bởi vì: “cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không triệt để, tiếng là cộng hoà và dân chủ, kì thực trong thì nó bóc lột công - nông, ngoài thì nó áp bức các thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức, bóc lột”.

Sau khi nghiên cứu kĩ sự thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn Ái Quốc đã kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam... Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.

Năm 1920, sau khi nghiên cứu bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường cứu nước, giải phóng dân tộc đúng đắn: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường cách mạng triệt để nhất, phù hợp với yêu cầu của cách mạng Việt Nam và quy luật phát triển của thời đại.

Khi thành lập Đảng đầu năm 1930, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ, ở nước ta phải làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Nghĩa là làm cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi rồi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh vạch rõ trong cách mạng giải phóng dân tộc có hai nhiệm vụ chiến lược. Đó là: đánh đổ đế quốc Pháp để giải phóng dân tộc; đánh đổ địa chủ phong kiến để mang lại ruộng đất cho nông dân. Trong hai nhiệm vụ đó, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu, còn nhiệm vụ dân chủ, đánh đổ địa chủ phong kiến, cần rải ra thực hiện từng bước và phải phục tùng nhiệm vụ giải phóng
dân tộc.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản ở Việt Nam là sự vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại mới.

2. Thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới hiện nay

Luận điểm "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản" là một luận điểm nền tảng của cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; định hướng phương hướng, đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 2 năm 1930, trong “Chánh cương vắn tắt của Đảng”, Đảng đã đề ra quan điểm "làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Quan điểm này được Đảng ta phát triển trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, đặc biệt là được thể hiện rất rõ trong Đại hội II của Đảng năm 1951, khẳng định cách mạng Việt Nam mang tính chất cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân dân do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tiếp tục khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là con đường cách mạng vô sản với việc xác định nhiệm vụ của cách mạng cả nước là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, giải phóng miền Nam, đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội. Sau khi thống nhất đất nước, hoàn thành công cuộc giải phóng dân tộc, năm 1976, tại Đại hội IV Đảng ta chủ trương đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng tiếp tục khẳng định con đường phát triển của dân tộc Việt Nam là đi lên chủ nghĩa xã hội; khẳng định mục tiêu lớn của thời đại là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no tự do hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”. Việc Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vì, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ.

Bằng việc nêu lên luận điểm mang tầm chân lý thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú lý luận Mác - Lênin về cách mạng vô sản ở các nước thuộc địa, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin trở nên phổ biến đối với mọi dân tộc trên thế giới trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Trong bài “Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh”, nguyên Phó Giám đốc Học viện Chính trị - Trường Đảng Êtiôpia Têshôm Kêbêđe đã viết: “Những tư tưởng của Hồ
Chí Minh có ảnh hưởng to lớn trong việc khuyến khích và cung cấp tri thức cho các lãnh tụ của giai cấp công nhân và các nhà cách mạng ở Á, Phi và Mỹ Latinh giải quyết một cách triệt để vấn đề dân tộc”.

Hiện nay, tuy cách mạng vô sản thế giới đang đứng trước những thách thức to lớn do sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa tư bản; không ít dân tộc gặp khó khăn trong việc chọn định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội do tác động tiêu cực của tình hình sau khi Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ. Tuy vậy,
nhiều nước ở châu Á, Phi, Mỹ Latinh vẫn giương ngọn cờ độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội dưới nhiều hình thức. Trong khi một số mô hình chủ nghĩa xã hội ở một số nước Đông Âu sụp đổ, một số mô hình chủ nghĩa xã hội mới - sản phẩm của quá  trình đổi mới chủ nghĩa xã hội - như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba với những thành tựu to lớn, khẳng định sức sống của chủ nghĩa xã hội đổi mới, trở thành tấm gương sáng để các dân tộc khác noi theo. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của các dân tộc dù có khó khăn, phức tạp, nhưng theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa tư bản đã từng có vai trò lịch sử trong các thế kỷ trước, cho dù hiện nay vẫn còn khả năng tồn tại do biết lợi dụng sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ và bóc lột các nước thuộc thế giới thứ ba, nhưng nó đã bộc lộ những khiếm khuyết và mâu thuẫn nội tại không thể giải quyết; đã và đang bộc lộ những hạn chế
không thể khắc phục nổi trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc, giai cấp, vấn đề xóa bỏ chế độ người bóc lột người, chiến tranh, bảo vệ môi trường, bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội, chăm lo phát triển con người, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc.

Do bản chất của mình, ngày nay, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn không từ bỏ chính sách thực dân xâm lược với nhiều biến tướng mới rất tinh vi và xảo quyệt nhằm bóc lột các nước kém phát triển, chậm phát triển. Những cuộc chiến tranh và can thiệp quân sự của các nước phương Tây vào các quốc gia độc lập có chủ quyền trong những thập niên 90 của thế kỷ XX và thập niên đầu của thế kỷ XXI, đặc biệt gần đây, cuộc tấn công quân sự của Liên quân do NATO lãnh đạo chống Libi, cho dù cố che đậy với những lý do gì, thì về thực chất vẫn là các cuộc xâm lược nhằm mục đích phân chia lại thị trường thế giới, giành giật tài nguyên, môi trường, duy trì hoặc áp đặt ảnh hưởng của họ lên các nước đang lựa chọn con đường phát triển của dân tộc mình, ngăn cản quá trình vận động, phát triển lên chủ nghĩa xã hội của các quốc gia đã giành được độc lập, buộc các quốc gia này phải phụ thuộc vào chủ nghĩa tư bản.

Bài học lịch sử trong thế kỷ XX và thập kỷ đầu của thế kỷ XXI cảnh tỉnh chúng ta rằng, còn chủ nghĩa tư bản là còn nguy cơ bị xâm lược; độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, sự thống nhất đất nước còn bị đe dọa. Do đó, chủ nghĩa tư bản quyết không phải là sự lựa chọn của nhân loại trong thời đại ngày nay. Chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội thì độc lập dân tộc mới được giữ vững, nhân dân lao động mới được giải phóng thực sự. Đó cũng chính là chân lý thời đại mà cách đây 100 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được ở chủ nghĩa Mác - Lênin trên hành trình đi tìm đường cứu nước, cứu dân của mình.

Lời giải

Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, nên Quốc tế Cộng sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc. Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản năm 1928 đã thông qua Những luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Trong đó, có đoạn viết rằng: chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến. Quan điểm này có tác động không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc.

Quán triệt tư tưởng của V.I. Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm, Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc - mối quan hệ bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau.

Năm 1924, tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”. Người đã khẳng định: “Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ, và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.

Thực tế cho thấy, thuộc địa có một vị trí, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc. Đó là nơi duy trì sự tồn tại, phát triển cho chủ nghĩa đế quốc. Người cho rằng: “Nọc độc và sức sống của con rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc”, “Nếu thờ ơ về vấn đề cách mạng ở thuộc địa thì như là đánh rắn đằng đuôi”. Cho nên, cách mạng ở thuộc địa có vai trò rất lớn trong việc cùng với cách mạng vô sản ở chính quốc tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc.

Trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Người vạch rõ: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: cách mạng thuộc địa chẳng những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể chủ động nổ ra và giành thắng lợi trước.

Vận dụng sáng tạo lí luận của C. Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân, Hồ Chí Minh đã kêu gọi: “Hỡi anh em ở các thuộc địa!... Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của C. Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”.

-> Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã thành công vào những năm 1960, trong khi cách mạng vô sản ở chính quốc vẫn chưa nổ ra và thắng lợi, đã chứng minh hùng hồn luận điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo và có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc là hoàn toàn đúng đắn.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP