khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

16/08/2026 18 Lưu

Phân tích quan niệm của Hồ Chí Minh về các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần phải làm gì? Tại sao?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng

Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh phải bảo đảm nhiều yếu tố, trong đó những nội dung thuộc về các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Bởi vì, sức mạnh của một đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của V.I. Lênin bắt nguồn từ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng.

Một là, tập trung dân chủ. Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người, vừa phát huy sức mạnh của tất cả những ai đã tự nguyện gắn bó với nhau trong một tổ chức. Tập trung là thiểu số phải phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành vô điều kiện mọi nghị quyết của Đảng. Từ đó, làm cho Đảng ta “tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”. Nguyên tắc này thể hiện sự thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa “tập trung” và “dân chủ”. Tập trung trên nền tảng dân chủ, không phải tập trung theo lối quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung nếu không sẽ dẫn đến dân chủ quá trớn, tự do vô tổ chức, vô kỷ luật. Tập trung đúng đắn, hợp lý sẽ làm tăng sức mạnh của dân chủ. Vì tập trung do toàn thể đảng viên kiến lập nên chứ không phải một nhóm nào đó có quyền lực thâu tóm; là sự tập trung của ý chí, trí tuệ và quyền lực của đa số tạo nên một cách thống nhất và tự giác chứ không phải tập trung được thiết lập một cách hình thức hoặc cưỡng bức. Nó hoàn toàn đối lập với quan liêu, chuyên chế, độc tài, đối lập với sự phân tán, cục bộ, bè phái, tự do, vô chính phủ. Dân chủ lành mạnh phải dựa trên cơ sở tập trung, không tách rời tập trung. Có nghĩa là bảo vệ và tôn trọng quyền bình đẳng của các đảng viên trong việc bàn bạc, thảo luận và quyết định các công việc của Đảng. Đó là con đường tạo nên sức mạnh chung bằng sự đoàn kết thống nhất, hướng vào thực hiện mục tiêu, lý tưởng chung của toàn Đảng, vì lợi ích của Nhân dân, vận mệnh, tương lai của Tổ quốc. Về nguyên tắc, dân chủ và tập trung không loại trừ nhau mà là tiền đề bảo đảm cho nhau. Tập trung càng hiệu quả thì dân chủ càng cao. Dân chủ càng rộng rãi thì tập trung càng đúng đắn, lành mạnh. Do đó, tách rời dân chủ với tập trung, tuyệt đối hóa mặt này để xem nhẹ mặt kia, đối lập chúng với nhau một cách siêu hình và giả tạo đều làm suy yếu cả dân chủ lẫn tập trung. Muốn có tập trung dân chủ thì phải đảm bảo dân chủ thực chất, đồng thời đề cao kỷ luật, tăng cường chế độ trách nhiệm của từng cá nhân đảng viên.

Hai là, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Đây là nguyên tắc lãnh đạo trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Nguyên tắc này cũng có hai mặt gắn bó mật thiết với nhau, gần với nguyên tắc tập trung, dân chủ. Vì tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung. Hồ Chí Minh cho rằng: “Một người dù khôn ngoan tài giỏi mấy, dù nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xét được một hoặc nhiều mặt của một vấn đề”. Vì vậy cần phải có nhiều người. Nhiều người thì nhiều kinh nghiệm, người thì thấy rõ mặt này, người thì trông rõ mặt khác của vấn đề đó. Góp kinh nghiệm và sự xem xét của nhiều người thì vấn đề đó được thấy rõ khắp mọi mặt. Mà có thấy rõ khắp mọi mặt thì vấn đề mới được giải quyết chu đáo khỏi sai lầm. Người nói: “Tục ngữ có câu: “Khôn bầy hơn khôn độc””, vì vậy mà cần tập thể lãnh đạo. Nhưng không phải vấn đề gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể giải quyết được cũng đưa ra bàn mới là tập thể lãnh đạo. Nếu làm như vậy, là hiểu tập thể lãnh đạo quá máy móc. Kết quả là cứ khai hội là hết ngày giờ.

Những việc bình thường, một người có thể giải quyết được đúng thì cứ cẩn thận giải quyết đi. Những việc quan trọng, mới cần tập thể quyết định. Cá nhân phụ trách là việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi thì cần phải giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách, công việc mới chạy. Nếu không có cá nhân phụ trách thì sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế việc gì cũng không xong. Không xác định rõ cá nhân phụ trách giống như “nhiều sãi không ai đóng cửa chùa”. Tuy nhiên, Người cho rằng, cần chống bệnh độc đoán, chuyên quyền, lấn át tập thể, phản lại lợi ích của Đảng. Cá nhân phụ trách là cá nhân đó thực hiện ý kiến của tập thể, cá nhân phụ trách hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa cá nhân, đồng thời cũng phải chống lại tệ dựa dẫm vào tập thể. Người nêu rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”.

Ba là, tự phê bình và phê bình. Đây là nguyên tắc sinh hoạt Đảng và quy luật phát triển Đảng, là vũ khí sắc bén làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Mục đích của tự phê bình và phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn và để đoàn kết thống nhất nội bộ. Đó cũng là vũ khí để nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng để Đảng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, làm tròn trách nhiệm trước giai cấp và dân tộc. Trong Di chúc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng”. Sở dĩ phải thực hiện tự phê bình và phê bình là bởi theo Người: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Thực hiện được tự phê bình và phê bình sẽ giúp cho mỗi người làm chủ và điều chỉnh được hành động của bản thân, giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội. Người cũng chỉ rõ, tự phê bình và phê bình phải đi đôi với nhau, trong đó, tự phê bình phải được thực hiện thường xuyên và nghiêm chỉnh để tự nhìn lại được bản thân, thấy ưu điểm để phát huy, thấy nhược điểm để sửa chữa. Phê bình cũng là để tự phê bình. Bởi, qua phê bình đồng chí mà mỗi người có thể nhìn lại mình một cách đầy đủ hơn. Tiếp thu phê bình một cách chân thành cũng là tự phê bình một cách nghiêm túc. Hồ Chí Minh cho rằng, con người ta ai cũng có khuyết điểm, chỉ khác nhau ở chỗ nặng hay nhẹ, ở trạng thái biểu hiện mà thôi: “Người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm”, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng”. Thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình là tiến hành thường xuyên; thẳng thắn, chân thành, trung thực, không nể nang, không thêm bớt, giấu giếm khuyết điểm, phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau.

Bốn là, kỷ luật nghiêm minh, tự giác. Đây là nguyên tắc làm cho Đảng thực sự là một tổ chức chiến đấu chặt chẽ, tạo nên sức mạnh của Đảng. Nghiêm minh là thuộc về tính chất của Đảng, vì đó là kỷ luật đối với mọi cán bộ, đảng viên không phân biệt cán bộ lãnh đạo hay đảng viên thường; mọi cán bộ, đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Sức mạnh của Đảng một phần lớn là ở kỷ luật của tổ chức. Tự giác là thuộc về mỗi cá nhân đảng viên. Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức của những người tự nguyện phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì vậy tự giác là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và đảng viên. Việc xử lý công minh, chính xác, kịp thời kỷ luật Đảng chính là thực hiện tốt dân chủ. Nó vừa có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, ngăn ngừa vi phạm, làm cho đảng viên không bị “nhờn” kỷ luật đảng, vừa có tác dụng giáo dục tổ chức đảng, đảng viên tự giác chấp hành nghiêm kỷ luật và thực hành nghiêm dân chủ. Điều đó đòi hỏi kỷ luật phải dân chủ, chính xác, hình thức kỷ luật phải đúng với nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm, phải nghiêm khắc với những kẻ ngoan cố, cố tình vi phạm, nhưng lại biết khoan dung độ lượng đối với những người biết hối lỗi, nhận ra sai lầm và sửa chữa khuyết điểm. Có như vậy mới tạo ra sự tự giác, thống nhất giúp huy động được một cách có hiệu quả tiềm năng và sự nhiệt huyết của cá nhân đóng góp cho tập thể. Kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ nền dân chủ, bảo vệ lợi ích của Nhân dân, của đảng viên, của tập thể.

Năm là, đoàn kết thống nhất trong Đảng. Sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phải dựa trên Cương lĩnh, Điều lệ, đường lối, quan điểm của Đảng. Từ đó, có sự thống nhất về hành động, nhằm đưa đường lối, quan điểm của Đảng vào cuộc sống, biến các chủ trương của Đảng thành hành động của quần chúng nhân dân. Muốn vậy phải thực hành dân chủ rộng rãi để cán bộ, đảng viên có thể tham gia bàn bạc những vấn đề hệ trọng của Đảng; thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân và các biểu hiện tiêu cực khác, phải sống có tình có nghĩa.

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”

Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên tiến hành công tác xây dựng Đảng trong nhiều nhiệm kỳ, nhiều cuộc vận động với nhiều biện pháp cơ bản và quan trọng góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng những đòi hỏi của công cuộc đổi mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng chính thức đặt ra vấn đề đổi mới gắn liền với chỉnh đốn Đảng. Điều này thể hiện rất rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh chỉ rõ: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo”. Chính vì thế, qua thực tiễn, Đảng đã và đang ngày càng tiến bộ và trưởng thành. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Ban Chấp hành Trung ương chỉ rõ: “Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, hơn 86 năm qua, Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh”. Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng vẫn còn không ít hạn chế, thậm chí có mặt nghiêm trọng, có khuyết điểm, yếu kém phải sửa chữa cấp bách nhưng chưa khắc phục được như mong muốn, có mặt còn phức tạp thêm, gây băn khoăn, lo lắng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (tháng 02/1999) ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay đã nhận định rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống tạo ra nạn tham nhũng, tệ quan liêu... Cùng với đó là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, với những âm mưu, thủ đoạn thâm độc, tinh vi, hòng xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, đã làm cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gặp không ít khó khăn, thách thức. Do đó, nếu Đảng không giữ vững được bản chất cách mạng, không thật vững vàng về chính trị, tư tưởng; không có sự thống nhất về ý chí và hành động; không trong sạch về đạo đức, lối sống; không chặt chẽ về tổ chức; không được Nhân dân ủng hộ thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo để đưa đất nước đi lên. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII năm 2016 của Đảng khẳng định một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới và phát triển đất nước là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Vì vậy, vận dụng di sản tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng Đảng trong điều kiện thực tiễn đất nước hiện nay là vấn đề hệ trọng có tầm chiến lược mà cũng vô cùng cần thiết.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Mục tiêu về chính trị: Xây dựng được chế độ dân chủ

+ Chế độ dân chủ là nhân dân làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.

+ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo

+ Trong nhà nước ấy, mọi người đều có quyền công dân và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ và cũng có nghĩa vụ của người làm chủ.

+ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền làm chủ, nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: Mọi công dân đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ của công, tôn trọng và chấp hành pháp luật,… đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng với vai trò người chủ. Người viết: “đã là người chủ nhà nước thì phải văm lo việc nước như chăm lo việc nhà… “Đã là người làm chủ thì phải biết tự lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”

- Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị

+ “Biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”

+ Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và dần dần thực hiện giải phóng sức sản xuất xã hội.

Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và ngày càng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên ở thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: “Sở hữu của Nhà nước tác là của toàn dân… Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động… Sở hữu của người lao động riêng lẻ… Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”

Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó là một thành phần kinh tế. Đây thực chất là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh (dựa trên sở hữu toàn dân) đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế nước nhà, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên; phải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã.

+ Xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, trong đó, công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến.

+ Cơ chế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: thực hiện chế độ khoán nhằm kết hợp lợi ích kinh tế của cá nhân và tập thể. “Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bộ cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.

+ Mục tiêu kinh tế phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị vì: Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển.

- Mục tiêu về văn hoá: Xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

+ Văn hóa có mối quan hệ biện chứng với kinh tế và chính trị. Chế độ chính trị và kinh tế xã hội là nền tảng và quyết định tính chất của văn hóa; văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế và văn hóa”.

+ Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

+ Xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở.

+ Theo Người, văn hóa làm gốc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

- Mục tiêu về quan hệ xã hội: phải đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh

+ Xây dựng xã hội dân chủ, con người có quyền tự do dân chủ về mọi mặt.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

+ Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân, nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

+ Xây dựng xã hội công bằng, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chính sách xã hội phải hướng tới con người, vì con người, cho con người và được quan tâm thực hiện; đảm bảo lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện để con người phát triển năng lực của mình.

+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng… Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Công bằng không phải là cào bằng, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.

+ Hồ Chí Minh chú ý đến việc giải phóng phụ nữ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người; giải phóng sức lao động, trong đó có sức lao động của phụ nữ. “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.

Mục tiêu nào là quan trọng nhất

Các mục tiêu về chủ nghĩa Xã hội kể trên đều quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng mục tiêu quan trọng nhất và có tính chất chi phối bao trùm lên tất cả các mục tiêu khác là mục tiêu xây dựng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ đào tạo con người là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là về mặt tư tưởng, Người cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của quá trình học tập, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Lời giải

Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.

Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:

Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.

Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.

+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”

+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.

* Quan điểm Hồ Chí Minh:

Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.

Đặc điểm thời kỳ quá độ:

+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.

Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.

Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.

+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.

+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.

+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.

+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.

Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?

Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP