Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam vào công tác xây dựng Đảng và xây dựng nhà nước hiện nay.
Sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam vào công tác xây dựng Đảng và xây dựng nhà nước hiện nay.
Câu hỏi trong đề: 122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh
Phải đề ra đường lối, chủ trương đủng đắn. Đường lối, chủ trương phải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phải vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với hoàn cảnh của đất nước từng giai đoạn, từng thời kì.
Phải tổ chức thực hiện thật tốt đường lối, chủ trương của Đảng. Phải thể chế hoá và phải biến thành hành động tích cực nhất của tất cả các tổ chức của hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt quan trọng là thực thi và phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chiến lược. Hơn nữa, người đứng đầu phải nêu cao trách nhiệm làm gương tốt để mọi người noi theo.
Phải chú trọng hơn nữa công tác chỉnh đốn Đảng. Sự nghiệp cách mạng nói chung và sự nghiệp đổi mới đất nước có thành công hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự trong sạch, vững mạnh của bản thân Đảng. Thường xuyên chỉnh đốn nội bộ để Đảng xứng đáng là người cầm quyền, để đảng viên luôn xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Phải làm cho Đảng luôn “là đạo đức, là văn minh”. Phải quán triệt sâu sắc hơn nữa trong Đảng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thống nhất giữa nói và làm. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để Đảng sử dụng và phát huy tốt quyền lực do dân giao phó nhằm phục vụ sự phát triển của dân tộc, đưa đất nước tiến những bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc như tiêu ngữ “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra trong các văn bản chính thức của Nhà nước ta (1945). Từ đó, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” đã trở thành mục tiêu, động lực của cách mạng Việt Nam.
Xây dựng Nhà nước
Phải xây dựng Nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh việc hoàn thiện pháp luật gắn với tổ chức thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lí xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lí đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân.
Phải xác định rõ cơ chế phân công, phối hợp thực thi quyền lực nhà nưởc, nhất là cơ chế kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở quyền lực nhà nước là thống nhất; xác định rõ hơn quyền hạn và trách nhiệm của mỗi quyền. Đồng thời, quy định rõ hơn cơ chế phối hợp trong việc thực hiện và kiểm soát các quyền ở các cấp chính quyền. Tiếp tục phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương,
Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán hộ, công chức. Đảng phải tập trung lãnh đạo về đường lối, chủ trương, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về cán bộ, công chức. Đẩy mạnh dân chủ hoá công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chát đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp để thực thi đầy đủ trách nhiệm công vụ, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lí. Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính. Rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách đối với cán bộ, công chức theo hướng khuyến khích cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ; lấy bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, nâng lực, hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút, trọng dụng nhân tài. Kiên quyết hơn nữa trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức.
Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Tiếp tục nâng cao hiệu quả thực hiện và đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các chủ trương, chính sách lớn, lãnh đạo thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất và năng lực, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách và hệ thống pháp luật; chú trọng lãnh đạo đổi mới, nâng cao chất lượng lập pháp, cải cách hành chính và cải cách tư pháp; các tổ chức của Đảng và đảng viên phải gương mẫu tuân thủ pháp luật. Bản chất, tính chất của Nhà nước gắn liền với vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền, do đó, sự trong sạch, vững mạnh của Đảng là yếu tố quyết định sự thành công của việc xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một số kết quả đạt được
Trong công tác xây dựng Đảng, Nhà nước, sau 5 năm Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập (ngày 1/2/2013), nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng (PCTN) đã có một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả. Cụ thể là: Thứ nhất, quyết liệt chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêm khắc và nhân văn; thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng và đồng chí Tổng Bí thư “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai”, tạo bước đột phá trong công tác PCTN. Từ khi thành lập đến nay, Ban Chỉ đạo đã đưa 68 vụ án, 57 vụ việc tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đến nay đã kết thúc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm 40 vụ án, với 500 bị cáo nhận các mức án nghiêm khắc (10 bị cáo với 11 án tử hình, 19 bị cáo với 20 án tù chung thân, 459 bị cáo tù có thời hạn từ 12 tháng đến 30 năm,...). Tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng đạt trên 31%; việc kê biên, thu giữ tài sản trong các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đạt trên 35 ngàn tỷ đồng, điển hình như: Vụ án xảy ra tại Ngân hàng TMCP Đại Tín trên 10.000 tỷ đồng, vụ án xảy ra tại Ngân hàng TMCP Xây dựng (giai đoạn I) trên 6.000 tỷ đồng, vụ AVG hơn 8.500 tỷ đồng, vụ án đánh bạc, tổ chức đánh bạc xảy ra tại Phú Thọ trên 1.400 tỷ đồng... Thứ hai, chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷ luật, kỷ cương góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác PCTN. Trong 5 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật Đảng 77.662 đảng viên vi phạm, trong đó hơn 4.300 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay đã thi hành kỷ luật hơn 500 tổ chức đảng và 35 ngàn đảng viên vi phạm, trong đó 1.300 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 56 cán bộ, đảng viên thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 11 đồng chí là Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, khai trừ Đảng 1 đồng chí Ủy Viên Trung ương - nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nhiều đồng chí là tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Từ năm 2013 đến nay, qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý hơn 400 ngàn tỷ đồng và 18.525 ha đất, chuyển 515 vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự sang cơ quan có thẩm quyền để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Thứ ba, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và PCTN được đẩy mạnh, từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”. Nhiều quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và PCTN được ban hành và tổ chức thực hiện quyết liệt, đi vào cuộc sống, vừa để giáo dục, phòng ngừa, ngăn chặn, vừa là căn cứ để phát hiện và xử lý các sai phạm, tham nhũng. Thứ tư, công tác cán bộ; cải cách hành chính, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các giải pháp phòng ngừa tham nhũng được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều đổi mới, nhất quán, rõ ràng, chỉ đạo giải quyết được nhiều vấn đề tồn đọng trước đây trong công tác cán bộ; “không chạy chức, chạy quyền” đã trở thành tuyên ngôn mạnh mẽ. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng...
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Mục tiêu về chính trị: Xây dựng được chế độ dân chủ
+ Chế độ dân chủ là nhân dân làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.
+ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo
+ Trong nhà nước ấy, mọi người đều có quyền công dân và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ và cũng có nghĩa vụ của người làm chủ.
+ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền làm chủ, nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: Mọi công dân đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ của công, tôn trọng và chấp hành pháp luật,… đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng với vai trò người chủ. Người viết: “đã là người chủ nhà nước thì phải văm lo việc nước như chăm lo việc nhà… “Đã là người làm chủ thì phải biết tự lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”
- Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị
+ “Biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”
+ Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và dần dần thực hiện giải phóng sức sản xuất xã hội.
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và ngày càng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên ở thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: “Sở hữu của Nhà nước tác là của toàn dân… Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động… Sở hữu của người lao động riêng lẻ… Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”
Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó là một thành phần kinh tế. Đây thực chất là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh (dựa trên sở hữu toàn dân) đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế nước nhà, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên; phải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã.
+ Xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, trong đó, công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến.
+ Cơ chế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: thực hiện chế độ khoán nhằm kết hợp lợi ích kinh tế của cá nhân và tập thể. “Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bộ cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.
+ Mục tiêu kinh tế phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị vì: Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển.
- Mục tiêu về văn hoá: Xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Văn hóa có mối quan hệ biện chứng với kinh tế và chính trị. Chế độ chính trị và kinh tế xã hội là nền tảng và quyết định tính chất của văn hóa; văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế và văn hóa”.
+ Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
+ Xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở.
+ Theo Người, văn hóa làm gốc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
- Mục tiêu về quan hệ xã hội: phải đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh
+ Xây dựng xã hội dân chủ, con người có quyền tự do dân chủ về mọi mặt.
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
+ Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân, nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.
+ Xây dựng xã hội công bằng, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chính sách xã hội phải hướng tới con người, vì con người, cho con người và được quan tâm thực hiện; đảm bảo lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện để con người phát triển năng lực của mình.
+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng… Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Công bằng không phải là cào bằng, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.
+ Hồ Chí Minh chú ý đến việc giải phóng phụ nữ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người; giải phóng sức lao động, trong đó có sức lao động của phụ nữ. “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.
Mục tiêu nào là quan trọng nhất
Các mục tiêu về chủ nghĩa Xã hội kể trên đều quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng mục tiêu quan trọng nhất và có tính chất chi phối bao trùm lên tất cả các mục tiêu khác là mục tiêu xây dựng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ đào tạo con người là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là về mặt tư tưởng, Người cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của quá trình học tập, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Lời giải
Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.
Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:
Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.
Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.
+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.
* Quan điểm Hồ Chí Minh:
Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.
Đặc điểm thời kỳ quá độ:
+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.
Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.
Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.
+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.
+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.
+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.
+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.
Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?
Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.