khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

16/08/2026 19 Lưu

Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa của những quan điểm đó trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã thấy được tầm quan trọng của pháp luật trong quản lý xã hội. Điều này được thể hiện trong bản Yêu sách của nhân dân An Nam do Người ký với tên Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây năm 1919. Người đã yêu cầu thực dân Pháp thay thế chế độ ra sắc lệnh ở Đông Dương bằng chế độ ra các đạo luật, người bản xứ cũng có quyền được hưởng những bảo đảm pháp luật như người Âu, xóa bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam. Để dễ phổ biến và tuyên truyền, Người đã chuyển bản Yêu sách thành Việt Nam yêu cầu ca. Trong đó có câu: “Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”.

Xây dựng nhà nước hợp pháp, hợp hiến

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời, Hồ Chí Minh đề nghị tổ chức tổng tuyển cử càng sớm càng tốt để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ máy chính thức của Nhà nước mới. Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 03/9/1945), một trong 6 nhiệm vụ cấp bách được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra là “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để sớm có một nhà nước hợp hiến do Nhân dân bầu ra. Ngày 20/9/1945, Người ký Sắc lệnh số’- 34/SL thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để chuẩn bị đệ trình Quốc hội. Ủy ban gồm 7 người do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban.

Cuộc tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi ngày 06/01/1946 với chế độ phổ thông đầu phiếu. Đây là lần đầu tiên ở Đông Nam Á tất cả nhân dân từ 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, đảng phái, tôn giáo đều đi bỏ phiếu, bầu những đại biểu của mình vào Quốc hội. Ngày 02/3/1946, Quốc hội khóa I đã họp phiên đầu tiên lập ra các tổ chức bộ máy và các chức vụ chính thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến. Đây là Chính phủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu của Nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của nước Việt Nam mới.

Nhà nước được điều hành, quản lý bằng Hiến pháp, pháp luật

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước vững mạnh trước hết là một nhà nước thực sự đại biểu cho quyền lợi của Nhân dân, thực sự do Nhân dân lập ra, được Nhân dân ủng hộ, vun đắp và chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Nhân dân. Đồng thời, đó phải là một nhà nước có bộ máy hành chính mạnh, hiệu lực, được quản lý, điều hành bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Trong Nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau mới bảo đảm được chính quyền trở nên mạnh mẽ. Mọi quyền dân chủ của Nhân dân phải được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật, ngược lại hệ thống pháp luật phải bảo đảm cho quyền tự do dân chủ của người dân được tôn trọng trong thực tế.

Theo Hồ Chí Minh, một xã hội có trật tự kỷ cương, một nhà nước vững mạnh, có hiệu lực phải quản lý bằng pháp luật. Không quản lý nhà nước bằng pháp luật sẽ dẫn đến sơ hở, cán bộ sẽ dễ sinh lạm dụng quyền lực, vi phạm quyền dân chủ của Nhân dân, cũng như công dân dễ có hành vi xâm phạm tự do của người khác, của cộng đồng và xã hội, dẫn đến hỗn loạn, vô chính phủ. Chính vì vậy, khi chưa xây dựng Hiến pháp mới và hình thành hệ thống pháp luật mới, Người đề nghị vận dụng những điều luật cũ còn tương đối phù hợp với tình hình mới, trừ bỏ những điều vi phạm hoặc trái với chủ quyền của Nhân dân. Sau này, khi Nhà nước ra đời, Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp. Ở cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và năm 1959, đã ký lệnh công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật.

Hồ Chí Minh còn hết sức chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước, đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo ra cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành và kiểm tra giám sát việc thi hành đó. Người nói: “công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt”. Muốn pháp luật đi vào cuộc sống thì phải tăng cường tuyên truyền giáo dục nhận thức cho người dân, Hồ Chí Minh coi trọng nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị, khuyến khích Nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước. Người cũng luôn nêu gương trong việc khuyến khích Nhân dân phê bình, giám sát công việc của Chính phủ, đồng thời không ngừng nhắc nhở cán bộ các cấp, ngành phải gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật, trước hết là cán bộ thuộc ngành hành pháp và tư pháp.

Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng

Hồ Chí Minh không chỉ chú trọng xây dựng mà còn thực hiện nghiêm minh Hiến pháp và pháp luật. Trong thi hành pháp luật, cái khó nhất là phải bảo đảm được tính khách quan, công bằng, bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Người chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì” . Ngày 27/11/1945, Người ký sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ sẽ bị phạt từ 5 đến 20 năm khổ sai và phải nộp gấp đôi số tiền nhận hối lộ . Ngày 26/01/1946, Người ký “quốc lệnh” khép tội tham ô, trộm cắp của công vào tội tử hình. Tuy nhiên, không vì thế mà đề cao một chiều vai trò của pháp luật, coi pháp luật là tối thượng, bỏ qua vai trò hỗ trợ của các nhân tố khác trong đó có vấn đề giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ khăng khít với nhau. Pháp luật bao giờ cũng là một biện pháp để khẳng định một chuẩn mực đạo đức nào đó và biến nó thành thói quen. Chuẩn mực đạo đức càng đúng đắn bao nhiêu thì vai trò của pháp luật càng quan trọng bấy nhiêu. Chỉ có đức nhân không đủ cai trị, chỉ có pháp luật cũng không thể thi hành.

Hồ Chí Minh là một nhà chính trị đạo đức. Đạo đức và chính trị cao nhất của Người là phục vụ Nhân dân. Người luôn kêu gọi thực hành đạo đức, nặng về giáo dục, nhẹ về xử phạt. Đối với kẻ phạm tội như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, Người yêu cầu Nhà nước phải vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lương thiện. Theo Người, trừ những người cố ý phá hoại, ngoài ra, không ai cố ý mắc sai lầm. Sai lầm là vì không hiểu, không biết. Vì vậy, đối với cán bộ bị sai lầm, ta quyết không nên cho rằng họ muốn như thế mà công kích họ. Trái lại, ta phải dùng thái độ thân thiết, giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm? Sai lầm như thế, sẽ có hại đến công việc thế nào? Làm thế nào mà sửa chữa? Nhấn mạnh giáo dục nhưng không quên kỷ luật, Hồ Chí Minh viết: “Sửa chữa sai lầm, cố" nhiên cần dùng cách giải thích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo. Song không phải tuyệt nhiên không dùng xử phạt. Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ. Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”.

-> Với Hồ Chí Minh, việc xây dựng và thi hành pháp luật phải dựa trên nền tảng đạo đức của xã hội và các giá trị đạo đức thấm sâu trong mọi quy định của pháp luật. Nói cách khác, pháp luật trong nhà nước pháp quyền là nhân nghĩa, là pháp luật vì con người.

Ý nghĩa của những quan điểm đó trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay

Trước đổi mới: Đảng Cộng sản Việt Nam chưa dùng khái niệm “nhà nước pháp quyền”, mà dùng khái niệm kiểu nhà nước, nhà nước chuyên chính vô sản, nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, tư tưởng về nhà nước pháp quyền vẫn được thể hiện. Đó là, nhà nước - công cụ thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.

Từ đổi mới đến nay:

+ Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (năm 1994), Đảng chính thức dùng khái niệm “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Qua các kỳ đại hội, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng tiếp tục khẳng định các quan điểm về xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo”. Đây là một bước tiến dài trên con đường nhận thức về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam.

+ Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu, do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tế. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một hình thức, tổ chức nhà nước, một trình độ phát triển của nhà nước về phương diện tổ chức, thiết kế, hoạt động - cách thức, hình thức, kỹ thuật tổ chức bộ máy nhà nước để bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật giữ vị trí tối thượng. Do vậy, nhà nước pháp quyền không xóa nhòa bản chất dân chủ của nhà nước.

+ Quan niệm về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Đảng là kết quả của một quá trình kế thừa và phát triển quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn. Hồ Chí Minh là người sáng lập ra Nhà nước công nông đầu tiên ở châu Á. Người lãnh đạo việc xây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật đã có một hệ quan điểm rõ ràng, nhất quán và sáng tạo về nhà nước pháp quyền Việt Nam. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước xuất phát từ yêu cầu của một nền dân chủ triệt để, đề cao nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự. Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp. Nhà nước là công cụ phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và phát triển quyền con người. Quyền con người không chỉ là quyền của cá nhân mà còn là quyền của dân tộc, độc lập dân tộc, giải phóng con người. Đó là tư tưởng rõ nét và phong phú về Nhà nước pháp quyền của Hồ Chí Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt và phát huy trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị... Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp và được tiến hành đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; gắn với đổi mới kinh tế, văn hóa, xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật”. Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”. Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Chỉ trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV vừa qua, Quốc hội đã xem xét và thông qua 72 dự án luật và 18 nghị quyết có quy phạm pháp luật, bao quát hầu khắp các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Từ việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế nhà nước, về công chức, công vụ, về bảo đảm quyền tự do, dân chủ của công dân, về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục, đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa và quốc phòng - an ninh đều có bước nâng lên về chất lượng làm cho hệ thống pháp luật của nước ta ngày càng đồng bộ, khả thi, chứa đựng nhiều giá trị trong nước cũng như của nhân loại. Cùng với việc hoàn thiện pháp luật, việc tổ chức thi hành pháp luật cũng được coi trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường; ý thức pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức được nâng lên một bước….

Bên cạnh đó, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện. Vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ. Theo Hiến pháp năm 2013 thì giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp kiểm soát lẫn nhau trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, nhưng mới chỉ coi trọng kiểm soát của quyền lập pháp đối với hành pháp và tư pháp thông qua giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội. Cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong mỗi quyền chưa độc lập và đủ mạnh. Cơ chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp hoạt động chưa thực chất, còn có biểu hiện hình thức. Hệ thống pháp luật còn có những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội mà thực tiễn đòi hỏi. Chấp hành pháp luật nhìn chung chưa nghiêm; kỷ cương phép nước có nơi, có lúc còn bị xem nhẹ; xử lý vi phạm pháp luật chưa kịp thời, chế tài xử lý chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển đất nước.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Mục tiêu về chính trị: Xây dựng được chế độ dân chủ

+ Chế độ dân chủ là nhân dân làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.

+ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo

+ Trong nhà nước ấy, mọi người đều có quyền công dân và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ và cũng có nghĩa vụ của người làm chủ.

+ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền làm chủ, nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: Mọi công dân đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ của công, tôn trọng và chấp hành pháp luật,… đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng với vai trò người chủ. Người viết: “đã là người chủ nhà nước thì phải văm lo việc nước như chăm lo việc nhà… “Đã là người làm chủ thì phải biết tự lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”

- Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị

+ “Biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”

+ Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và dần dần thực hiện giải phóng sức sản xuất xã hội.

Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và ngày càng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên ở thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: “Sở hữu của Nhà nước tác là của toàn dân… Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động… Sở hữu của người lao động riêng lẻ… Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”

Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó là một thành phần kinh tế. Đây thực chất là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh (dựa trên sở hữu toàn dân) đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế nước nhà, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên; phải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã.

+ Xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, trong đó, công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến.

+ Cơ chế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: thực hiện chế độ khoán nhằm kết hợp lợi ích kinh tế của cá nhân và tập thể. “Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bộ cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.

+ Mục tiêu kinh tế phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị vì: Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển.

- Mục tiêu về văn hoá: Xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

+ Văn hóa có mối quan hệ biện chứng với kinh tế và chính trị. Chế độ chính trị và kinh tế xã hội là nền tảng và quyết định tính chất của văn hóa; văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế và văn hóa”.

+ Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

+ Xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở.

+ Theo Người, văn hóa làm gốc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

- Mục tiêu về quan hệ xã hội: phải đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh

+ Xây dựng xã hội dân chủ, con người có quyền tự do dân chủ về mọi mặt.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

+ Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân, nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

+ Xây dựng xã hội công bằng, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chính sách xã hội phải hướng tới con người, vì con người, cho con người và được quan tâm thực hiện; đảm bảo lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện để con người phát triển năng lực của mình.

+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng… Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Công bằng không phải là cào bằng, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.

+ Hồ Chí Minh chú ý đến việc giải phóng phụ nữ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người; giải phóng sức lao động, trong đó có sức lao động của phụ nữ. “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.

Mục tiêu nào là quan trọng nhất

Các mục tiêu về chủ nghĩa Xã hội kể trên đều quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng mục tiêu quan trọng nhất và có tính chất chi phối bao trùm lên tất cả các mục tiêu khác là mục tiêu xây dựng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ đào tạo con người là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là về mặt tư tưởng, Người cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của quá trình học tập, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Lời giải

Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.

Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:

Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.

Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.

+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”

+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.

* Quan điểm Hồ Chí Minh:

Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.

Đặc điểm thời kỳ quá độ:

+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.

Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.

Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.

+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.

+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.

+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.

+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.

Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?

Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP