Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về lực lượng của đại đoàn kết dân tộc. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về lực lượng của đại đoàn kết dân tộc. Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay?
Câu hỏi trong đề: 122 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về lực lượng của đại đoàn kết dân tộc
Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Nói tới khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng có nghĩa là phải tập hợp được tất cả mọi người dân vào trong cuộc đấu tranh chung. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh thì dân là toàn thể “mọi con dân nước Việt”, không phân biệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo, quý, tiện. Dân là gốc rễ, nền tảng của nước, là chủ thể của khối đại đoàn kết, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Dân là một khối không đồng nhất, gồm nhiều giai cấp, tầng lớp, nhiều dân tộc, có lợi ích chung và riêng khác nhau. Bởi vậy, muốn xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc phải xác định rõ vị trí của các giai tầng trong xã hội.
Hồ Chí Minh đã tìm ra mẫu số chung để gắn kết các giai tầng trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Đó là ý thức về cộng đồng dân tộc, về nền độc lập, tự do của dân tộc. Người nêu rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Người đã lấy hình tượng 5 ngón tay có ngón dài, ngón ngắn nhưng ngắn dài đều họp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này người thế khác nhưng đều dòng dõi tổ tiên ta cả. Tuy nhiên, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng. Đó là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là liên minh công - nông do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Vì họ là lực lượng đông đảo nhất, bị áp bức bóc lột nhất cho nên họ đấu tranh cách mạng triệt để nhất. Người coi liên minh này như cái nền của nhà, cái gốc của cây. Người viết: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”. Sau này, Người cho rằng lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết ấy chính là liên minh công - nông - trí thức.
Muốn xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải kế thừa truyền thống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc. Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của tinh thần yêu nước và sự đoàn kết của Nhân dân, Hồ Chí Minh viết: “Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi... Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta cách mạng thành công, giành được độc lập... Nhờ lực lượng ấy mà chúng ta sẽ đuổi sạch thực dân Pháp ra khỏi đất nước ta, và lấy lại thống nhất và độc lập thật sự”.
Phải có tấm lòng khoan dung, độ lượng, tin vào Nhân dân, tin vào con người. Lòng khoan dung độ lượng ở Hồ Chí Minh không phải là một sách lược nhất thời, một thủ đoạn chính trị mà là sự tiếp nối và phát triển truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc, từ chính mục tiêu của cách mạng mà Người suốt đời theo đuổi. Người kêu gọi tất cả những ai có lòng yêu nước, không phân biệt tầng lớp, tín ngưỡng, chính kiến và trước đây đã từng đứng vào phe nào, hãy cùng nhau đoàn kết vì nước, vì dân. Người viết: “Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Muốn đoàn kết trước hết phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các giai cấp, tôn giáo, tín ngưỡng, cần xóa bỏ mọi thành kiến, phải thật thà đoàn kết, đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Vì, dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng. Nguyên tắc này vừa tiếp nối truyền thống của dân tộc “Nước lấy dân làm gốc”, “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”, vừa là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.
Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Đại đoàn kết dân tộc luôn được Đảng coi là một trong những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Đảng luôn nêu cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc, mở rộng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ trương xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, hận thù trong quá khứ; tập hợp, đoàn kết mọi lực lượng, mọi người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, lấy liên minh công nhân với nông dân và trí thức làm nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc. Khuyến khích các thành phần kinh tế, xác lập quyền làm chủ của người lao động trong lĩnh vực kinh tế, khuyến khích làm giàu chính đáng theo pháp luật, đồng thời thực hiện tốt các chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “xóa đói, giảm nghèo”.
Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số" 07- NQ/TW về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996) và lần thứ X (tháng 4/2006) của Đảng đã nâng vấn đề đại đoàn kết dân tộc lên một tầm cao mới nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên tinh thần đó, ngày 08/5/2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 35-CT/TW về việc tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc các dân tộc thiểu số Việt Nam và yêu cầu các cấp ủy Đảng từ trung ương đến địa phương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị quan trọng này. Do đó, Đại hội toàn quốc được tiến hành vào trung tuần tháng 5/2010 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là một biểu hiện rất rõ của việc vận dụng sáng tạo tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm mỗi người dân đều được thụ hưởng những thành quả của công cuộc đổi mới” và “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta”. Đại hội XIII khẳng định để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên cán bộ, công chức”. Quan điểm chỉ đạo của Đảng nhằm làm cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc càng thêm bền vững, không ngừng mở rộng và phát huy được tối đa sức mạnh. Nghị quyết còn chỉ rõ “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ; lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Đồng thời, phát huy vai trò chủ thể và xây dựng các giai tầng trong xã hội vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, từ giai cấp công nhân đến phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới và phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc…. Nhận thức sâu sắc vị trí, tầm quan trọng của việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng ta xác định đây là một trong những công tác cơ bản được tiến hành thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình vận động cách mạng, trở thành một truyền thống tốt đẹp của Đảng và dân tộc.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
- Mục tiêu về chính trị: Xây dựng được chế độ dân chủ
+ Chế độ dân chủ là nhân dân làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.
+ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo
+ Trong nhà nước ấy, mọi người đều có quyền công dân và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ và cũng có nghĩa vụ của người làm chủ.
+ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền làm chủ, nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: Mọi công dân đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ của công, tôn trọng và chấp hành pháp luật,… đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng với vai trò người chủ. Người viết: “đã là người chủ nhà nước thì phải văm lo việc nước như chăm lo việc nhà… “Đã là người làm chủ thì phải biết tự lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”
- Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị
+ “Biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”
+ Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và dần dần thực hiện giải phóng sức sản xuất xã hội.
Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và ngày càng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên ở thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: “Sở hữu của Nhà nước tác là của toàn dân… Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động… Sở hữu của người lao động riêng lẻ… Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”
Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó là một thành phần kinh tế. Đây thực chất là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh (dựa trên sở hữu toàn dân) đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế nước nhà, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên; phải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã.
+ Xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, trong đó, công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến.
+ Cơ chế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: thực hiện chế độ khoán nhằm kết hợp lợi ích kinh tế của cá nhân và tập thể. “Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bộ cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.
+ Mục tiêu kinh tế phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị vì: Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển.
- Mục tiêu về văn hoá: Xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
+ Văn hóa có mối quan hệ biện chứng với kinh tế và chính trị. Chế độ chính trị và kinh tế xã hội là nền tảng và quyết định tính chất của văn hóa; văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế và văn hóa”.
+ Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
+ Xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở.
+ Theo Người, văn hóa làm gốc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
- Mục tiêu về quan hệ xã hội: phải đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh
+ Xây dựng xã hội dân chủ, con người có quyền tự do dân chủ về mọi mặt.
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
+ Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân, nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.
+ Xây dựng xã hội công bằng, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chính sách xã hội phải hướng tới con người, vì con người, cho con người và được quan tâm thực hiện; đảm bảo lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện để con người phát triển năng lực của mình.
+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng… Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Công bằng không phải là cào bằng, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.
+ Hồ Chí Minh chú ý đến việc giải phóng phụ nữ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người; giải phóng sức lao động, trong đó có sức lao động của phụ nữ. “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.
Mục tiêu nào là quan trọng nhất
Các mục tiêu về chủ nghĩa Xã hội kể trên đều quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng mục tiêu quan trọng nhất và có tính chất chi phối bao trùm lên tất cả các mục tiêu khác là mục tiêu xây dựng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ đào tạo con người là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là về mặt tư tưởng, Người cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của quá trình học tập, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.
Lời giải
Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.
Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:
Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.
Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.
+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.
* Quan điểm Hồ Chí Minh:
Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.
Đặc điểm thời kỳ quá độ:
+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.
Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.
Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.
+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.
+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.
+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.
+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.
Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?
Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.