Cần bảo đảm những nguyên tắc và phương pháp nào trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh?
Cần bảo đảm những nguyên tắc và phương pháp nào trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh?
Câu hỏi trong đề: 100 câu bài tập Tư tưởng Hồ Chí Minh (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
* Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người.
Trong mỗi quốc gia dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cả các lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích dân tộc. Quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện được hay không còn phụ thuộc vào dân tộc đó có được độc lập tự do, có đoàn kết hay không và viêc nhận thức, giải quyết đúng đắn các quan hê lợi ích đó như thế nào. Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là tìm kiếm, trân trọng và phát huy những yếu tố tương đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất những yếu tố khác biêt, mâu thuẫn và Người bao giờ cũng tìm ra những yếu tố của đoàn kết dân tộc thay cho sự đào sâu tách biêt, thực hiên sự quy tụ thay cho viêc loại trừ những yếu tố khác nhau về lợi ích.
Theo Hồ Chí Minh, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Viêt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh giúp Người tìm ra những phương pháp để thực hiên nguyên tắc đó trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình.
+ Tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của dân. Đây là nguyên tắc xuất phát từ tư tưởng lấy dân làm gốc của ông cha ta được Người kế thừa và nâng lên một bước trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cách mạng là sự nghiêp của quần chúng, Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống, đấu tranh vì dân là nguyên tắc tối cao, xuyên suốt trong tư duy chiến lược và hoạt động thực tiễn. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” và “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Tin vào dân, dựa vào dân và lấy dân làm gốc có nghĩa là phải tin tưởng vững chắc vào sức mạnh to lớn và năng lực sáng tạo của Nhân dân, phải đánh giá đúng vai trò của lực lượng nhân dân. Người viết: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”.
+ Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi, lâu dài, bền vững trên cơ sở liên minh công - nông - trí, do giai cấp công nhân lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh, có đoàn kết mới tạo nên sức mạnh của cách mạng. Muốn đoàn kết và lãnh đạo cách mạng, điều kiện tiên quyết là phải có một Đảng cách mạng với tính cách là bộ tham mưu, là hạt nhân để tập hợp quần chúng trong nước và tổ chức, giữ mối liên hệ với bè bạn ở ngoài nước. Đảng cách mạng muốn thống nhất về chính trị và tư tưởng thì phải giữ vững bản chất của giai cấp công nhân, phải được vũ trang bằng chủ nghĩa chân chính, khoa học và cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đại đoàn kết một cách tự giác là một tập hợp bền vững của các lực lượng xã hội có định hướng, tổ chức và có lãnh đạo. Đây là sự khác biệt mang tính nguyên tắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến lược đại đoàn kết dân tộc với tư tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và một số" lãnh tụ cách mạng trong khu vực và trên thế giới.
+ Đại đoàn kết chân thành, thân ái, thẳng thắn theo nguyên tắc tự phê bình, phê bình vì sự thống nhất bền vững. Giữa các bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc, bên cạnh những điểm tương đồng còn có những điểm khác nhau cần phải giải quyết theo con đường đối thoại, bàn bạc để đi đến sự nhất trí; bên cạnh những nhân tố tích cực vẫn có những tiêu cực cần phải khắc phục. Để giải quyết vấn đề này, một mặt Hồ Chí Minh nhấn mạnh phương châm “cầu đồng tồn dị”; mặt khác, Người nêu rõ: “Đoàn kết thât sự nghĩa là mục đích phải nhất trí và lập trường cũng phải nhất trí. Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học hỏi những cái tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái, vì nước, vì dân”.
+ Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế'; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế' trong sáng của giai cấp công nhân. Ngay khi thành người cộng sản, Hồ Chí Minh đã xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới và chỉ có thể giành được thắng lợi hoàn toàn khi có sự đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới. Trong quá trình cách mạng, tư tưởng của Người về vấn đề đoàn kết với cách mạng thế giới càng được làm sáng tỏ hơn và đầy đủ hơn. Cách mạng Việt Nam phải gắn với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng tiến bộ đấu tranh cho dân chủ và hòa bình thế giới. Cụ thể hơn là với nhân dân Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa khác với phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
-> Tư tưởng Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành ba tầng Mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào và mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Đây là sự phát triển rực rỡ và là thắng lợi to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.
Phương pháp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Muốn xây dựng khối đại đoàn kết phải có phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng thật sự khoa học để mọi người tự mình nhận thức được sự cần thiết phải tập hợp lại, từ đó tham gia công việc cách mạng.
+ Xác định nội dung tuyên truyền, giáo dục phù hợp với tâm lý, nguyện vọng chung nhất của dân tộc và của các giai cấp, tầng lớp xã hội. Tùy theo hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa vào cương lĩnh cách mạng những mục tiêu chiến lược phản ánh chính xác những đòi hỏi cấp bách của lịch sử và những khát vọng cháy bỏng của Nhân dân. Trong những năm tháng chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, mục tiêu chiến lược và cũng là nội dung tuyên truyền, giáo dục, khẩu hiệu hành động của Hồ Chí Minh là “độc lập dân tộc” và “người cày có ruộng”; trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, Người nhấn mạnh “dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết”; trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Người nêu cao mục tiêu “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”; thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Người nói “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Đó chính là những nội dung tuyên truyền, giáo dục, vận động đi sâu vào lòng người, có sức lôi cuốn, tập hợp lực lượng theo đúng nội dung của từng thời kỳ cách mạng.
+ Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gương mẫu mực trong việc sử dụng hiệu quả các hình thức tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng. Cách nói, cách viết của Người ngắn gọn, dễ hiểu, vừa trí thức, vừa bình dân; vừa sâu sắc, vừa giản dị. Nội dung tuyên truyền, vận động của Người luôn sâu sát và phù hợp với đôi tượng cần tuyên truyền, vận động. Những vấn đề lớn của cách mạng, của chủ nghĩa Mác - Lênin, của dân tộc và của thời đại đã được Người trình bày bằng ngôn ngữ thông thường rất gần gũi với người lao động, với mọi người dân Việt Nam để ai cũng hiểu được, hiểu được thì nhớ được, nhớ được thì làm được.
+ Hiệu quả của phương pháp tuyên truyền, giáo dục, vận động còn tùy thuộc vào bản thân người tiến hành công tác tuyên truyền, vận động. Muốn quần chúng tin và làm theo thì bản thân người tiến hành công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động phải là một tấm gương đoàn kết trong lời nói và việc làm, có sức lôi cuốn thu phục quần chúng bởi tình cảm trong sáng và tinh thần tận tụy vì nước, vì dân. Những đức tính ấy của người cán bộ cách mạng đều được thể hiện trong công tác vận động, giáo dục quần chúng, trong việc chăm lo bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ cách mạng có đủ năng lực, phẩm chất làm hạt nhân đoàn kết quần chúng nhân dân của Hồ Chí Minh.
- Về phương pháp tổ chức. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị là vấn đề quan trọng nhất trong phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Bởi muốn xây dựng, củng cố" khối đại đoàn kết dân tộc thì phải có phương pháp xây dựng, kiện toàn, không ngừng phát triển hệ thống chính trị. Sự thống nhất và bền vững của hệ thống chính trị là yếu tố quyết định sự tồn tại và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Về xây dựng Đảng Cộng sản: Đây là hạt nhân lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản phải được xây dựng trên nguyên tắc đảng vô sản kiểu mới, phải luôn trong sạch và vững mạnh để đủ sức tập hợp đại đoàn kết và lãnh đạo cách mạng.
+ Về xây dựng chính quyền cách mạng: Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, củng cố Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân. Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải luôn trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân. Chỉ có như vậy, Nhà nước mới thực sự là công cụ của Đảng, là tổ chức đại diện cho quyền lực của Nhân dân, mới được Nhân dân tin tưởng và ủng hộ.
+ Về xây dựng, hoàn thiện các tổ chức chính trị, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức xã hội: Tổ chức rộng rãi nhất, liên quan trực tiếp đến việc tập hợp khối đoàn kết dân tộc là các đoàn thể quần chúng. Chính các đoàn thể quần chúng này tập hợp nhau lại thành Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận càng rộng, càng chặt chẽ, càng thống nhất bao nhiêu thì khối đại đoàn kết dân tộc càng mạnh mẽ, càng bền vững bấy nhiêu. Các tổ chức, đoàn thể cần phải được xây dựng cho phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức của quần chúng. Trước hết, đó là sự kế thừa các tổ chức xã hội truyền thống, tiến dần đến các tổ chức cách mạng đơn giản, tiến tới các tổ chức hướng quần chúng vào công cuộc cứu nước. Hình thức tổ chức các đoàn thể quần chúng hết sức đa dạng, phù hợp với từng lứa tuổi, ngành nghề (các hội: Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Phụ lão Cứu quốc...) trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ là một điển hình của phương pháp tổ chức khối đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh. Cương lĩnh, chương trình hành động của các đoàn thể quần chúng phải hết sức rõ ràng, thiết thực. Nội dung hoạt động phải phong phú, phù hợp với nguyện vọng và yêu cầu của dân chúng. Cán bộ của các tổ chức chính trị, của đoàn thể cần “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”.
- Phương pháp xử lý đồng bộ các mối quan hệ nhằm thực hiện thêm bạn, bớt thù. Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là sự kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp ứng xử sao cho có thể mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạngvà thu hẹp tới mức tối đa trận tuyến thù địch. Đó là phương pháp xử lý mối quan hệ: cách mạng - trung gian - phản cách mạng. Phương pháp này bao hàm sự kết hợp giữa chiến lược và sách lược, sự cứng rắn về nguyên tắc và sự mềm dẻo, linh hoạt trong các giải pháp, biện pháp tình thế tùy theo tình hình của từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Phương pháp xử lý các mối quan hệ theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh đặc biệt quan trọng trong hoàn cảnh Việt Nam thường xuyên phải đối đầu với các thế lực thù địch mạnh hơn ta gấp nhiều lần trên lĩnh vực kinh tế và quân sự. Người chủ trương khai thác, phát huy sự thống nhất, tương đồng, hạn chế khắc phục tiến tới xóa bỏ dần những khác biệt trong mục tiêu lợi ích. Sự đoàn kết, thống nhất của lực lượng cách mạng chính là điều kiện tiên quyết của việc thu hút, tập hợp các lực lượng trung gian vào trận tuyến cách mạng, cô lập các lực lượng thù địch.
+ Đối với các lực lượng trung gian, phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, khêu gợi, cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước, chân thành hợp tác và trọng dụng “điều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết..., cần phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân”.
+ Đối với các thế lực thù địch, phương pháp Hồ Chí Minh là chủ động, kiên quyết tiến công tiêu diệt trên cơ sở phân hóa, cô lập chúng đến mức cao độ. Khai thác mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, lôi kéo, tranh thủ những lực lượng nào còn có thể tranh thủ được, hòa hoãn tạm thời với những lực lượng nào còn có thể hòa hoãn được, cô lập và thu hẹp lực lượng thù địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất đối với cách mạng.
+ Đối với các thế lực thù địch ngoan cố, phản động nhất, phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh là phương pháp cách mạng triệt để: không ngừng tấn công, tiêu diệt và phải quét sạch chúng ra khỏi đất nước.
-> Tóm lại, phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh yêu cầu nhận thức và giải quyết một cách khoa học, hiệu quả các mối quan hệ phức tạp và đôi khi đối lập giữa giai cấp với dân tộc, giữa quốc gia và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại. Chính nhờ sự biện chứng trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc, chính nhờ “nắm bắt được cái hồn của nhận thức đấu tranh giai cấp” mà Hồ Chí Minh “đã hóa giải khôn ngoan những đối kháng về quyền lợi bộ phận trong những hoàn cảnh nhất định phục vụ tập trung cao nhất cho quyền lợi toàn cục”.
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là một sự kiện chính trị trong đại của Đảng, đất nước và dân tộc ta, đại hội diễn ra trong bối cảnh “Đất nước đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức đan xen, nhiều vấn đề chiến lược mới đặt ra cần phải giải quyết”. Tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII đúc kết là “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc";... Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, một trong các bài học đó là phải phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, bài học này cần được phát huy cao độ nhằm kết hợp nội lực với tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nghị quyết Đại hội XIII đã kế thừa và phát triển quan điểm của Đảng được khẳng định từ các Đại hội trước về vị trí, vai trò và nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định vị trí quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực và nguồn lực quan trọng và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là một chân lý lớn của thời đại, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, không phải chỉ với Việt Nam mà còn có ý nghĩa chung đối với tất cả các dân tộc đang đấu tranh giải phóng và tìm tòi con đường phát triển cho đất nước sau khi giành được độc lập dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ thống nhất biện chứng với nhau.
Độc lập dân tộc là cơ sở, tiền đề để tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh nhận thấy rằng chỉ có con đường duy nhất là làm cách mạng thì mới giành được độc lập cho dân tộc, và làm theo Cách mạng Tháng Mười Nga thì mới đem lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Điều đó có nghĩa,
đối với các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trước hết phải tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc. Để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống lý luận, quan điểm cách mạng làm cơ sở để xác định chiến lược cách mạng khoa học, phù hợp với nhu cầu tiến hóa của dân tộc, theo xu thế của thời đại. Hồ Chí Minh đã xây dựng một hệ thống quan điểm cách mạng, khoa học, toàn diện và sáng tạo mang tầm vóc một học thuyết giải phóng và phát triển vì độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh thuộc về hệ quan điểm lý luận cách mạng của chủ nghĩa cộng sản khoa học - lý luận về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người, được truyền bá trực tiếp, khoa học và có tổ chức vào Việt Nam dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vào mùa xuân 1930 và thông qua Chánh cương vắt tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng... do chính Người soạn thảo, đề ra chủ trương thực hiện chiến lược của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”.
Căn cứ vào tình hình xã hội Việt Nam khi thành lập Đảng, theo Hồ Chí Minh cuộc cách mạng này không thực hiện một lúc đánh đế quốc và đánh phong kiến mà kết hợp nhiệm vụ chống đế quốc giải phóng dân tộc với nhiệm vụ chống phong kiến thực hiện khẩu hiệu người cày có ruộng theo phương châm: hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến tiến hành khăng khít nhưng không song song nhất loạt ngang nhau. Nhiệm vụ chống phong kiến rải ra mà làm, nhằm phục vụ nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản không phải qua hai cuộc cách mạng chính trị với mục tiêu, đối tượng và lực lượng khác nhau như phải trải qua hai lần giành chính quyền giống cách mạng Nga (Cách mạng Tháng Hai và Cách mạng Tháng Mười); cũng không phải hai lần giải phóng như cách mạng Trung Quốc: giải phóng dân tộc khỏi ách phát xít Nhật (tháng 8/1945) rồi đến giải phóng công nông, giành chính quyền về tay công nông (tháng 10/1949). Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản mà Hồ Chí Minh đề ra mang tính chất một cuộc cách mạng không ngừng, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ giải phóng dân tộc với nhiệm vụ dân chủ cũng như kết hợp nhiệm vụ dân tộc, dân chủ với sự nghiệp xây dựng đất nước theo con đường đi dần lên chủ nghĩa xã hội.
Sau khi chính quyền đã về tay Nhân dân, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân ở một nước thuộc địa nửa phong kiến. Trên nền tảng liên minh công nông và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Nhà nước dân chủ nhân dân thực hiện từng bước cải cách kinh tế, văn hóa và xã hội phục vụ quốc kế dân sinh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân trước hết là nhân dân lao động, thực hiện từng bước nhiệm vụ giải phóng dân tộc về mặt kinh tế, bảo đảm đất nước độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ cả về chính trị lẫn kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội. Như vậy, trong giải phóng dân tộc đã bao hàm giải phóng giai cấp, xã hội và giải phóng con người. Việc đề cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, kết hợp từng bước với nhiệm vụ dân chủ và xã hội chủ nghĩa là biểu hiện sâu sắc, triệt để và đúng đắn nhất lập trường cách mạng của Hồ Chí Minh. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ cơ bản chống đế quốc và chống phong kiến bảo đảm cho cách mạng Việt Nam kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh giai cấp, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm hoàn thành thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc.
-> Điểm mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ, toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam là một cuộc cách mạng trải qua nhiều giai đoạn mà mỗi giai đoạn ứng với một nhiệm vụ nhất định của tiến trình phát triển. Nhiệm vụ giai đoạn trước hoàn thành tạo tiền đề cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của giai đoạn sau. Cho nên, giữa các giai đoạn của cuộc cách mạng không có bức tường ngăn cách, không làm thay đổi trật tự bố trí, sắp xếp các lực lượng cách mạng mà chỉ tạo điều kiên cho các lực lượng được cách mạng hóa cho phù hợp với từng bước phát triển.
Chủ nghĩa xã hội là điều kiện vững chắc để bảo đảm nền độc lập dân tộc
Hồ Chí Minh đã làm nổi bật tư tưởng về mối quan hê giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp vô sản, về sự gắn liền cuộc cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản trong thời đại ngày nay, về con đường đảm bảo chắc chắn cho độc lập dân tộc chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản, là sự nghiêp của chủ nghĩa xã hội. Trong bài Đông Dương - cuộc kháng chiến (1923 - 1924), Người viết: “Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiêp của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”. Con đường ấy, ngay từ buổi đầu được Người lựa chọn đã đặt cách mạng Viêt Nam vào sự vận động của phong trào cách mạng thế giới, là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới. Khẳng định sự lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa đối với Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn con đường giải phóng dân tộc một cách triêt để nhất, đưa cách mạng Viêt Nam sau khi hoàn thành nhiêm vụ giải phóng dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Sau khi xác định con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh luôn chủ trương gắn chặt cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Người coi chủ nghĩa xã hội vừa là phương tiện, là con đường, lại vừa là mục tiêu của sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong Truyền đơn cổ động mua báo Le Paria đầu năm 1923, Hồ Chí Minh viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc...”. Hồ Chí Minh chưa bao giờ coi chủ nghĩa xã hội là điểm xuất phát mà chỉ là một sự gặp gỡ trong hành trình cứu nước, giải phóng dân tộc. Sự gặp gỡ ấy đã mở ra cho Người con đường đúng đắn để đạt tới mục tiêu của mình. Người viết: “Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa xã hội trước hết là một chế độ dân chủ, do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chế độ dân chủ thể hiện trong tất cả các mặt của đời sống xã hội từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... và được thể chế hóa bằng Hiến pháp và pháp luật. Đây là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm nền độc lập dân tộc, tạo ra nền tảng ý thức xã hội bảo vệ chủ quyền dân tộc, kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu thôn tính, đe dọa nền độc lập, tự do của dân tộc. Chủ nghĩa xã hội được lựa chọn như một con đường để thực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam: độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội không phải là mục tiêu tự nó. Nó chỉ tồn tại với tính cách là mục tiêu khi nó là cái cần thiết để đạt một mục tiêu cao hơn, bao trùm hơn là đem lại cuộc sống, tự do và hạnh phúc cho mọi người. Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội đã khiến quan điểm giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh mang tính toàn diện và triệt để. Nó vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
* Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác - Lênin, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã tìm ra con đường phát triển mang tính đặc thù - đó là con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước thuộc địa nửa phong kiến. Cách thức phát triển này cho phép giải quyết một cách triệt để mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp của xã hội Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Qua đó cho thấy, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phản ánh sự lựa chọn khách quan của chính thực tiễn
- lịch sử dân tộc mang đậm tính đặc thù của Việt Nam đã được khẳng định. Với mục tiêu xác định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp với sự ủng hộ giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của nước xã hội chủ nghĩa, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành độc lập, tự do cho dân tộc, đưa đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ nhận thức rõ mỗi quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên phương diện kinh tế, nên qua 35 năm đổi mới, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng, sự nỗ lực phấn đấu, chung sức đồng lòng của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân và sự giúp đỡ, hợp tác của cộng đồng quốc tế, nhân dân ta đã đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới”, tạo ra thế và lực mới để đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Những thành tựu về đổi mới cho chúng ta niềm tin về sự lựa chọn đúng đắn của mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020, đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020, đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020.
Lời giải
Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.
Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:
Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.
Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.
+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.
* Quan điểm Hồ Chí Minh:
Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.
Đặc điểm thời kỳ quá độ:
+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.
Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân
+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.
Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.
+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.
+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.
+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.
+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.
Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?
Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.