khoahoc.vietjack.com

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Hồ Chí Minh được tổ chức UNESCO ghi nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Việt Nam”. Trong Nghị quyết 24C/18.6.5 của khóa họp 24 Đại hội đồng UNESCO tại Pari từ ngày 20/10/1987 đến ngày 20/11/1987. Nghị quyết khẳng định, Hồ Chí Minh để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người có sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật. Tư tưởng của Người là sự kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam và hiện thân cho khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Cống hiến của Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc sáng tạo văn hóa văn nghệ, xác lập hệ thống quan điểm về văn hóa và xây dựng nền văn hóa mới Việt Nam. Cả cuộc đời Người chú trọng chống giặc dốt, xóa mù chữ, phát triển văn hóa, nâng cao dân trí.

Nền văn hóa mà Hồ Chí Minh chủ trương, kết hợp những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc được phát triển và nâng cao với tinh hoa văn hóa của nhân loại, thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Người cho rằng, phải làm cho văn hóa đi sâu vào tâm lý quốc dân, đi vào cuộc sống mới; văn hóa phải sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ; văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và cả đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên được hưởng. Hồ Chí Minh quan tâm đến việc xây dựng con người mới. Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, học đi đôi với hành. Người chú trọng đến việc giáo dục lý tưởng, giáo dục đạo đức.

“Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất” cần phải được hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm văn hóa, trong đó có những nội dung cốt lõi là quyền sống của con người. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, “sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa”. Người là biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một tấm gương tuyệt vời về người cộng sản. Nghị quyết của UNESCO cho thấy, ở Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa nhà chính trị và nhà văn hóa (thống nhất giữa cách mạng và văn hóa). Trong thực tế, có những người nổi tiếng về hoạt động văn hóa nhưng không phải là nhà hoạt động chính trị. Trái lại, có những người nổi tiếng trên lĩnh vực hoạt động chính trị nhưng lại không phải là nhà văn hóa. Hồ Chí Minh lại hoàn toàn khác, Người là nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, đồng thời cũng là nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu, thể hiện sự thống nhất chặt chẽ giữa chất cách mạng và chất văn hóa trong tư tưởng và hoạt động của mình. UNESCO thừa nhận Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất.

Tuy nhiên, ở Hồ Chí Minh thật khó tách bạch sự nghiệp chính trị và sự nghiệp văn hóa. Bản thân Người cũng không có ý thức tách hai lĩnh vực hoạt động của mình. Từ chối mọi danh hiệu liên quan đến văn nghệ, Người chỉ tự nhận mình là nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Ở đây, vừa do đức tính khiêm tốn của Hồ Chí Minh, vừa do quan niệm của Người về văn hóa. Hoạt động chính trị và hoạt động văn hóa của Hồ Chí Minh được kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tạo nên nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh, là biểu hiện của sáng tạo văn hóa. Mọi sản phẩm văn hóa của Hồ Chí Minh đều chứa đựng quan điểm chính trị, quan điểm văn hóa, quan điểm văn hóa chính trị. Chẳng hạn như các tác phẩm: Bản án chế độ thực dân Pháp, Nhật ký trong tù, Tuyên ngôn độc lập... thể hiện sự thống nhất giữa cách mạng và văn hóa. Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh được nhiều nhà hoạt động chính trị - xã hội, nhiều chính khách, những người nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Một trong những đánh giá sớm nhất về tầm nhìn văn hóa của Hồ Chí Minh là bài viết của nhà báo Liên Xô Ôxíp Manđenxtam. Với tựa đề Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc, tác giả nhận xét: “Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây, Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị... Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Tiếp cận ở khía cạnh quyền làm người, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng thuộc địa, có thể thấy: “Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã huy động sức mạnh của truyền thống 4.000 năm văn hiến của dân tộc, kết hợp với tinh hoa văn hóa của thời đại, lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm người, quyền được sống một cuộc sống xứng đáng với con người. Sự nghiệp đó trả lại địa vị xứng đáng cho nền văn hóa Việt Nam, cũng là một sự nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với nền văn hóa thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa, từng bước tiến lên thanh toán chủ nghĩa thực dân, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử và trong nền văn hóa của loài người.

Sự nghiệp văn hóa của Hồ Chí Minh đem đến cho kho tàng văn hóa thế giới những giá trị lớn, thể hiện khát vọng của nhân dân các nước trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân tộc cơ bản, vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, mỗi dân tộc khẳng định bản sắc văn hóa của mình và phát triển sự hiểu biết với các dân tộc khác”. Nói đến nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh là nói đến biểu tượng của tinh thần dân tộc và hội tụ nhiều dòng tư tưởng tiến bộ trên thế giới, góp phần thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau. Nghị quyết của Đại hội đồng UNESCO ghi rõ: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng của tinh thần dân tộc, Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc trên thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hồ Chí Minh là một con người hội tụ nhiều tư tưởng thể hiện khát vọng của các dân tộc trên thế giới trong việc khẳng định bản sắc văn hóa và trong những nỗ lực nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau”.

Nghị quyết UNESCO được Đại hội đồng thông qua tại khóa họp lần thứ 24 của cơ quan này tại Pari năm 1987. Đến năm 2010, kỷ niệm 120 năm ngày sinh Hồ Chí Minh, ông Hans D’Orville, Phó Tổng Giám đốc UNESCO và bà Katherine Muller Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội tiếp tục khẳng định: “Tôi có mặt tại đây ngày hôm nay để hoàn thành sứ mệnh của Đại hội đồng cho rằng việc thế giới kỷ niệm ngày sinh của những nhà văn hóa và trí thức kiệt xuất sẽ góp phần đạt được mục tiêu của UNESCO và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các quốc gia”.

300 nhà khoa học trên thế giới biên soạn tác phẩm loại từ điển mang tên Văn hóa thế kỷ XX (XX Century culture) thảo luận và đưa ra tiêu chí ghi nhận danh nhân văn hóa thế giới trong thế kỷ XX:

Thế kỷ XX là thế kỷ của những đảo lộn khoa học và công nghệ. Chẳng hạn Thuyết Tương đối của A. Anhxtanh. Ai phát minh ra những kết quả khoa học và công nghệ làm đảo lộn thế giới thì đó là danh nhân văn hóa thế giới;

Thế kỷ XX là thế kỷ của những cuộc chiến tranh tàn bạo. Ai tích cực đấu tranh cho quyền sống của con người, bênh vực con người, giải phóng con người là tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn, người đó là danh nhân văn hóa thế giới;

Thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hóa (Décolonisation). Ai là người góp phần tích cực giải phóng các thuộc địa, giải phóng các dân tộc bị áp bức, làm đảo lộn thế giới thuộc địa, vẽ lại bản đồ chính trị thế giới, thì đó là danh nhân văn hóa thế giới.

300 nhà khoa học nhất trí cho rằng: “Hồ Chí Minh là nhà mácxít hay nhà Nho, điều đó không quan trọng. Hồ Chí Minh là người cộng sản hay là người dân tộc chủ nghĩa, điều đó không quan trọng. Chỉ cần biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc - người yêu nước - thế là đủ để xếp ông vào hàng danh nhân văn hóa thế giới thế kỷ

XX. Vì Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt được mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”. Như vậy, những nhìn nhận và đánh giá đó của các nhà khoa học đã chứng tỏ được rằng Hồ Chí Minh không chỉ là nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam mà còn là danh nhân văn hóa thế giới.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Quan niệm của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

- Mục tiêu về chính trị: Xây dựng được chế độ dân chủ

+ Chế độ dân chủ là nhân dân làm chủ Nhà nước và xã hội. Trong xã hội, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.

+ Nhà nước của ta là nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo

+ Trong nhà nước ấy, mọi người đều có quyền công dân và mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Nhân dân có quyền làm chủ và cũng có nghĩa vụ của người làm chủ.

+ Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh sự thống nhất giữa quyền làm chủ, nghĩa vụ và tính năng động của người làm chủ: Mọi công dân đều có nghĩa vụ lao động, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ của công, tôn trọng và chấp hành pháp luật,… đồng thời có nghĩa vụ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để xứng đáng với vai trò người chủ. Người viết: “đã là người chủ nhà nước thì phải văm lo việc nước như chăm lo việc nhà… “Đã là người làm chủ thì phải biết tự lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”

- Mục tiêu về kinh tế: Xây dựng được nền kinh tế phát triển cao gắn bó mật thiết với mục tiêu về chính trị

+ “Biến một nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến”

+ Xóa bỏ chế độ tư hữu, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và dần dần thực hiện giải phóng sức sản xuất xã hội.

Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thắng chủ nghĩa tư bản khi nó tạo ra được một nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại và ngày càng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Tuy nhiên ở thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu: “Sở hữu của Nhà nước tác là của toàn dân… Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động… Sở hữu của người lao động riêng lẻ… Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”

Tương ứng với mỗi hình thức sở hữu đó là một thành phần kinh tế. Đây thực chất là chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ, trong đó kinh tế quốc doanh (dựa trên sở hữu toàn dân) đóng vai trò nền tảng của nền kinh tế nước nhà, Nhà nước phải đảm bảo cho nó phát triển ưu tiên; phải đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ kinh tế hợp tác xã.

+ Xây dựng nền kinh tế phát triển toàn diện, trong đó, công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà. Đối với các nước lạc hậu, chưa trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quy luật tất yếu và phổ biến.

+ Cơ chế quản lý nền kinh tế xã hội chủ nghĩa: thực hiện chế độ khoán nhằm kết hợp lợi ích kinh tế của cá nhân và tập thể. “Chế độ khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bộ cho nhà máy tiến bộ. Làm khoán là ích chung và lại lợi riêng…; làm khoán tốt, thích hợp và công bằng dưới chế độ ta hiện nay”.

+ Mục tiêu kinh tế phải gắn bó chặt chẽ với mục tiêu chính trị vì: Chế độ kinh tế và xã hội của chúng ta nhằm thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân, trên cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển.

- Mục tiêu về văn hoá: Xây dựng được nền văn hóa mang tính dân tộc, khoa học, đại chúng và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

+ Văn hóa có mối quan hệ biện chứng với kinh tế và chính trị. Chế độ chính trị và kinh tế xã hội là nền tảng và quyết định tính chất của văn hóa; văn hóa góp phần thực hiện mục tiêu của chính trị và kinh tế. “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển kinh tế và văn hóa”.

+ Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ, cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

+ Xây dựng nền văn hoá mới tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, lấy hạnh phúc của đồng bào, dân tộc làm cơ sở.

+ Theo Người, văn hóa làm gốc, văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi; văn hoá phải sửa đổi được tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ, phải làm cho ai cũng có lý tưởng độc lập, tự chủ, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

- Mục tiêu về quan hệ xã hội: phải đảm bảo dân chủ, công bằng, văn minh

+ Xây dựng xã hội dân chủ, con người có quyền tự do dân chủ về mọi mặt.

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.

+ Nhà nước phải đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân, nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do dân chủ làm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước và nhân dân.

+ Xây dựng xã hội công bằng, có quan hệ tốt đẹp giữa người với người. Mọi chính sách xã hội phải hướng tới con người, vì con người, cho con người và được quan tâm thực hiện; đảm bảo lợi ích chính đáng của con người, tạo điều kiện để con người phát triển năng lực của mình.

+ Thực hiện công bằng xã hội. Hồ Chí Minh nói: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng… Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên”. Công bằng không phải là cào bằng, “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”.

+ Hồ Chí Minh chú ý đến việc giải phóng phụ nữ. Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người, giải phóng mọi tiềm năng sẵn có của con người; giải phóng sức lao động, trong đó có sức lao động của phụ nữ. “Nói đến phụ nữ là nói đến phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa”.

Mục tiêu nào là quan trọng nhất

Các mục tiêu về chủ nghĩa Xã hội kể trên đều quan trọng và có mối quan hệ biện chứng với nhau nhưng mục tiêu quan trọng nhất và có tính chất chi phối bao trùm lên tất cả các mục tiêu khác là mục tiêu xây dựng đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ đào tạo con người là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là con người. Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâm trước hết là về mặt tư tưởng, Người cho rằng: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Muốn có con người xã hội chủ nghĩa phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của quá trình học tập, vận dụng phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Lời giải

Tính chất, đặc điểm và nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

* Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

Trong “Phê phán Cương lĩnh Gotha”, C.Mác viết: giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là một thời kỳ chuyển biến từ chế độ nọ sang chế độ kia. Và thích ứng với thời kỳ đó là một thời kỳ quá độ về chính trị, trong đó chức năng của nhà nước đóng vai trò quan trọng.

Nếu C.Mác mới chỉ ra con đường quá độ trực tiếp từ nước tư bản phát triển ở trình độ cao lên CNXH với tính chất là sự chuyển biến cách mạng gay go và quyết liệt, thì Lênin đã chỉ ra con đường thứ hai – quá độ gián tiếp lên CNXH với hai hình thức:

Từ nước tư bản phát triển trung bình đi lên CNXH.

Từ nước tiền tư bản hoặc kém phát triển đi lên CNXH.

+ Theo V.I. Lênin: “Với sự giúp đỡ của giai cấp vô sản các nước tiên tiến, các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xô viết, và qua những giai đoạn phát triển nhất định, tiến tới chủ nghĩa cộng sản, không phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”

+ Tính chất của nó, theo V.I.Lênin dù ở hình thức nào cũng đều là “cơn đau đẻ kéo dài”.

* Quan điểm Hồ Chí Minh:

Tính chất: Là thời kỳ cản biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ. “Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm. Chúng ta phải thay đổi những quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới… phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp”. Trong điều kiện nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, vừa thoát khỏi ách thực dân, phong kiến, nên nó là cuộc biến đổi khó khăn nhất, sâu sắc nhất, hơn cả việc đánh giặc trên mặt trận.

Đặc điểm thời kỳ quá độ:

+ Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

+ Xuất phát điểm ở trình độ thấp, lạc hậu về kinh tế, xã hội, cơ sở văn hoá, kỹ thuật ban đầu, kinh nghiệm tổ chức quản lý.

Kinh tế nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp què quặt nhỏ lẻ, manh mún; Văn hoá chịu ảnh hưởng lớn của văn hoá thực dân, trình độ dân trí và văn hoá thấp (sau 1945, 95% dân số mù chữ); Xã hội còn nhiều tàn dư xã hội cũ: phong kiến và nhiều tệ nạn xã hội Pháp đưa vào đầu độc nhân dân

+ Xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, luôn bị các thế lực phản động, thù địch tìm cách chống phá.

Sau 1954, đất nước bị chia cắt làm 2 miền, Hồ Chí Minh chủ trương tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đây là điểm sáng tạo lớn của Hồ Chí Minh.

Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ: cải tạo, xóa bỏ tàn tích xã hội cũ, xây dựng các yếu tố mới trên tất cả các lĩnh vực đời sống.

+ Về chính trị: phải xây dựng được chế độ dân chủ bằng cách chống các biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trước hết trong Đảng, Nhà nước; bồi dưỡng, giáo dục tri thức, năng lực làm chủ cho nhân dân.

+ Về kinh tế: cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại. Đây là quá trình xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong đó xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt, lâu dài.

+ Về văn hóa: phải triệt để tẩy trừ tàn tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch văn hóa thực dân; phát triển truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu văn hóa nhân loại để xây dựng nền văn hóa Việt Nam dân tộc, khoa học, đại chúng.

+ Về các quan hệ xã hội: phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, đảm bảo lợi ích chính đáng của con người.

Vì sao thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội được coi là thời kỳ cải biến sâu sắc nhất nhưng phức tạp, lâu dài, khó khăn, gian khổ?

Theo Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thời kỳ cải biến xã hội cũ thành xã hội mới, một xã hội hoàn toàn chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Đây là thời kỳ dân tộc ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và những thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm; phải xóa bỏ giai cấp bóc lột; phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước có văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc. Trong điều kiện nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu, mới thoát khỏi ách thực dân phong kiến nên đó là một công cuộc biến đổi sâu sắc nhất, khó khăn nhất, thậm chí còn khó khăn, phức tạp hơn cả việc đánh giặc. Vì vậy, tiến lên chủ nghĩa xã hội không thể một sớm một chiều, không thể làm mau được mà phải làm dần dần từng bước nên phải tránh nóng vội, chủ quan nhưng cũng phải tránh bảo thủ, trì trệ.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP