khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

24/08/2026 11 Lưu

Hoàn cảnh lịch sử (những thuận lợi, khó khăn) của VN sau năm 1975 và quá trình hình thành đường lối đổi mới. Những nội dung cơ bản của đường lối đổi mới do Đại hội 6 đặt ra (12/1986) ?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Những thuận lợi của Việt Nam sau năm 1975

  • Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

  • Nhân dân ta có tinh thần tự lực, tự cường, thiết tha với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí rất cao đối với vấn đề xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.

  • Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại đang diễn ra, tạo điều kiện cho chúng ta tận dụng được nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời gian trong quá trình phát triển.

  • Những thành công và không thành công trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ở những nước xã hội chủ nghĩa giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.

Những khó khăn của Việt Nam sau năm 1975

  • Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, năng suất lao động thấp, lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm.

  • Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình.

  • Các thế lực thù địch chống phá.

  • Tình hình quốc tế có nhiều biến động. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, gây tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng trên thế giới và cách mạng Việt Nam.

  • Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều vấp váp và mô hình chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều khuyết tật mà những khuyết tật đó chưa được Đảng ta nhận thức đầy đủ ở những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.

Hoàn cảnh lịch sử

  • Từ năm 1980 trở đi, xu thế trên thế giới chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại.

  • Các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu đều đã và đang tiến hành những hoạt động cải cách kinh tế để khắc phục những khiếm khuyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội.

  • Ở Việt Nam, sau hơn một thập kỷ (1975–1985) vừa phát triển kinh tế, vừa tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhưng khó khăn cũng chồng chất. Đất nước từ giữa những năm 80 lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nặng nề, chưa ổn định được tình hình kinh tế – xã hội như mục tiêu mà Đại hội V đề ra.

  • Đại hội VI đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam là đổi mới (tìm biện pháp, bước đi đúng để xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn).

Nội dung cơ bản của Đại hội VI

Đại hội VI kiểm điểm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Báo cáo chính trị của Đại hội đã chỉ ra những thành tựu ta đạt được và chỉ ra tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng kinh tế – xã hội, tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận, chậm tổng kết kinh nghiệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong công tác chậm thực hiện đổi mới cán bộ.

Đại hội VI rút ra 4 bài học kinh nghiệm:

  • Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, chăm lo xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

  • Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự đúng đắn của Đảng.

  • Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

  • Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta.

Mục tiêu tổng quát

“Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội. Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếp theo.”

Năm mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên

  • Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.

  • Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

  • Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

  • Tạo ra bước chuyển biến tốt về mặt xã hội (trên các lĩnh vực tạo việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương).

  • Đảm bảo nhu cầu quốc phòng và an ninh.

Hệ thống giải pháp – những quan điểm mới trong lĩnh vực kinh tế

1. Bố trí cơ cấu sản xuất

Điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chương trình về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (đây cũng là nội dung của đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên).

2. Về cải tạo xã hội chủ nghĩa

Cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hình thức và bước đi thích hợp; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất.

Công nhận nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, coi chủ trương phát triển nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài và là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

3. Về cơ chế quản lý kinh tế

Xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp; xây dựng cơ chế mới (cơ chế thị trường) phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.

Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước cho phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ chế quản lý mới.

4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Coi phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực của chủ nghĩa xã hội, động viên và tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế và quản lý xã hội, tham gia cải cách kinh tế.

5. Mở rộng hợp tác quốc tế

Mở rộng hợp tác quốc tế trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.

Ý nghĩa của Đại hội VI

Đại hội VI đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc.

Thành công của Đại hội là sức mạnh mới, là cơ sở hết sức quan trọng trong việc tăng cường đoàn kết, thống nhất giữa toàn Đảng, toàn dân.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Ý nghĩa của bài học

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là bài học xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng nước ta,là một trong những cội nguồn thắng lợi mà nhân dân ta đã giành được từ khi có sự lãnh đạo của Đảng.

Cơ sở của bài học

-Cơ sở lý luận của bài học là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp , giải phóng xã hội trong thời kỳ mới.

-Cơ sở thực tiễn là yêu cầu khách quan của lịch sử dân tộc, của thời đại và những biến cố lịch sử của nước ta và trên thế giới trong quá trình đấu tranh để giải quyết yêu cầu đó.

Nội dung của bài học.

-Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện qua các thời kỳ cách mạng:

a.Thời kỳ 1930-1945.

-Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thể hiện trong đấu tranh giành chính quyền . Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta nhận thức về sự chỉ đạo chiến lược đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc , giành độc lập dân tộc lên hàng đầu và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất sẽ được độc lập dân tộc thì chưa có điều kiện giải quyết đầy đủ các vấn đề khác như vấn đề ruộng đất , nâng cao dân trí....

-Chủ nghĩa yêu nước là một động lực mạnh của đất nước cần phải để triệt để phát huy.

-Khi chưa cải cách ruộng đất, chỉ với khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phản quốc chia cho nông dân nghèo, giảm tô, giảm tức cũng đủ lôi cuốn đông đảo nông dân tham gia cách mạng . Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc , nông dân được hưởng nhiều quyền lợi to tát như đánh đuổi Pháp-Nhật, xoá các thứ thuế vô lý, được chia công điền và nhiều quyền lợi kinh tế chính trị khác.

-Chủ nghĩa thực dân không chỉ là kẻ thù của giai cấp công nhân , nông dân mà còn là kẻ thù của toàn dân tộc .

Cách mạng giải phóng dân tộc không chỉ giải phóng công-nông mà giải phóng cả dân tộc khỏi ách nô lệ. Sự nghiệp giành độc lập không chỉ của công-nông mà của mọi người Việt Nam yêu nước.

-Cách mạng giải phóng dân tộc là thời kỳ dự bị để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tuy là phương hướng tiến lên sau này nhưng lại có ảnh hưởng quyết định đến tính chất triệt để và tạo ra sức mạnh hùng hậu của cách mạng giải phóng dân tộc .

-Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của việc thực hiện khối đoàn kết toàn dân vì nhiệm vụ tối cao giải phóng dân tộc , giành chính quyền về tay nhân dân . Lúc đó cách mạng thế giới chưa có điều kiện giúp đỡ trực tiếp Việt Nam, nhưng Đảng ta đã kịp thời tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi, trong đó có thắng lợi của nhân dân Liên Xô đánh bại bọn pát xít Nhật ở Châu á để phát động cuộc Tổng khởi nghĩa.

a.Thời kỳ 1945-1975

Đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện khác nhau ở hai thời kỳ khác nhau: Thời kỳ 1945-1954 vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới; Thời kỳ từ 1954- 1975 vừa kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

-Thời kỳ 1945-1954

+Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Đảng đã đề nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhưng thục dân Pháp lại xâm lược nước ta lần nữa. Với tinh thần chúng ta “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Đảng đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng . Đảng nhận định cách mạng nước ta vẫn là cách mạng giải phóng dân tộc , nhiệm vụ giải phóng dân tộc vẫn được đặt lên hàng đầu, nhiệm vụ cải cách ruộng đất có điều kiện thực hiện rộng rãi hơn so với thời kỳ giành chính quyền nhưng vẫn theo tinh thần rải làm từng bước, xuất phát từ nhiệm vụ chống đế quốc .

+Trong kháng chiến chống Pháp, chúng ta có nhiều vùng tự do, mặc dù vậy vẫn chưa đủ điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Đảng chỉ đề ra chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, tức là vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ mới, chế độ dân chủ nhân dân .

+Khối đại đoàn kết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược vừa dựa trên nền tảng phát huy lòng yêu nước của toàn dân, vừa dựa trên những thành tựu ban đầu của chế độ mới. Chế độ mới không chỉ là lực lượng tinh thần mà còn là lực lượng vật chất to lớn, bảo đảm kháng chiến lâu dài, càng đánh càng thắng, cuối cùng đánh bại cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

-Thời kỳ 1954-1975

+Đường lối chiến lược kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được thể hiện một cách độc đáo chưa có tiền lệ trong lịch sử và hoàn toàn phù hợp với đặc điểm và yêu cầu cách mạng nước ta trong điều kiện đất nước tạm thời chia làm hai miền.

+Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội thể hiện ở đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng : cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam.

+ở miền Bắc, chủ nghĩa xã hội không còn là định hướng mà đã trở thành hiện thực. Vì nhân dân cả nước đều có nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước, nên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc mang đặc điểm là chủ nghĩa xã hội thời chiến.

+Chủ nghĩa xã hội thời chiến có những đặc điểm giống và khác với chủ nghĩa xã hội thời bình.

+Xây dựng chủ nghĩa xã hội , Đảng ta không chỉ vận dụng quy luật của bản thân chủ nghĩa xã hội mà còn cả quy luật của chiến tranh cách mạng .

+Nhìn chung 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội thời chiến, miền Bắc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn:

#Miền Bắc đánh bại hai lần chiến tranh phá hoại rất ác liệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ.

#Miền Bắc đã làm tròn nhiệm vụ với tiền tuyến lớn miền Nam và nghĩa vụ quốc tế, đảm bảo đời sống tối thiểu cho nhân dân để tiến hành kháng chiến lâu dài.

#Trong khi chăm lo xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung trí tuệ chỉ đạo cách mạng miền Nam, từ xây dựng lực lượng chính trị , vũ trang đến xây dựng chế độ mới ở vùng căn cứ, vùng giải phóng....

#Đảng đã huy động lực lượng ở miền Bắc phục vụ miền Nam.

#Sức mạnh của cách mạng miền Nam là sức mạnh của chế độ mới, sức mạnh tại chỗ và sức mạnh của chủ nghĩa xã hội thời chiến dội vào.

-Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những thành tựu miền Bắc xã hội chủ nghĩa giành được là thắng lợi của đường lối do Đảng vạch ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960).

a.Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội – từ năm 1975 trở đi.

-Đường lối chiến lược được thể hiện ở hình thái mới: Tổ quốc đã hoàn toàn độc lập thì dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn liền là một. Đại hội lần thứ VII của Đảng nêu quyết tâm: Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội . Bởi vì, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc .

-Độc lập dân tộc là mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc , là tiền đề và điều kiện để xây dựng chủ nghĩa xã hội . Kinh nghiệm lịch sử cho thấy: sự tồn vong và phát triển của mỗi quốc gia dân tộc đều gắn liền trực tiếp với giữ vững độc lập dân tộc và chủ quyền của mỗi quốc gia ấy. Sống trong độc lập dân tộc là nguyện vọng của mọi người trong cộng đồng dân tộc . Nhưng “độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Mọi người đều được ấm no hạnh phúc, thì chỉ có con đường xã hội chủ nghĩa.

-Chủ nghĩa xã hội là đảm bảo chắc chắn và bền vững nhất cho nền độc lập của dân tộc .

-Chủ nghĩa xã hội sẽ xóa bỏ căn nguyên kinh tế sâu xa của tình trạng người bóc lột người do chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất sinh ra.

-Thực hiện độc lập dân tộc để mở đường đưa dân tộc tới sự phát triển phồn vinh về mọi mặt.

Để thực hiện quyết tâm đó, việc làm đầu tiên của Đảng là đánh giá một cách khách quan những thuận lợi và khó khăn của tình hình đất nước và tình hình thế giới. Đảng phải mất một thời gian dài mới đưa ra Cương lĩnh xây dựng đất nước và phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Lời giải

Làm cho toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ những vấn đề sau:

Sự chuyển biến của tình hình, miền Bắc không còn ở trong thời kỳ xây dựng hoà bình nữa, mà đã bắt đầu ở vào thời chiến

So sánh lực lượng giữa ta và địch. Nhấn mạnh những thuận lợi của ta và thất bại nghiêm trọng của Mỹ, cho nên ta nhất định sẽ thắng, Mỹ nhất định sẽ thất bại hoàn toàn.

Giải phóng miền Nam là trách nhiệm chung của nhân dân cả nước và cả nước đều phải tham gia đánh giặc. Cần phải xác định rõ "Miền Bắc dù có bị ném bom bắn phá đến đâu cũng phải vì giải phóng miền Nam mà không chút nao núng, nâng cao chí khí căm thù và quyết tâm thắng địch"(3). Phải đẩy mạnh phong trào "ba sẵn sàng" với nội dung và yêu cầu mới. Cần phải xây dựng tác phong tích cực, khẩn trương của thời chiến.

Phải ra sức xây dựng tư tưởng phấn khởi và tin tưởng, quyết chiến quyết thắng đế quốc Mỹ và tay sai, tư tưởng sẵn sàng chiến đấu và công tác ở bất cứ nơi nào theo tiếng gọi của Đảng và của Tổ quốc; tư tưởng sẵn sàng đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch, sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn gian khổ, sẵn sàng chiến đấu lâu dài chống Mỹ với tinh thần tự lực cánh sinh cao; chống tư tưởng sợ Mỹ, đánh giá địch quá cao, hoặc chủ quan khinh địch; tư tưởng hoang mang, dao động, cầu an; tư tưởng muốn đàm phán khi chưa có điều kiện có lợi, muốn kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào; tư tưởng ỷ lại vào sự giúp đỡ của nước ngoài và không tin vào sức mình.

Như vậy, "chuyển hướng tư tưởng" ở đây có thể hiểu một cách ngắn gọn là: chuyển từ nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời bình sang nội dung và phương pháp tư tưởng ở thời chiến, trong đó bao gồm những nội dung cụ thể là đế quốc Mỹ dù có mạnh đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng; miền Bắc dù có bị bắn phá đến đâu cũng phải quyết tâm cùng miền Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Cốt lõi của vấn đề chuyển hướng tư tưởng là làm cho nhân dân miền Bắc thấy rõ tình hình mới của đất nước, từ đó có sự đồng thuận tuyệt đối với Đảng, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược trong bất kỳ tình huống nào.

Chủ trương "chuyển hướng tư tưởng" của Hội nghị Trung ương 11 được tiếp tục khẳng định và bổ sung ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 (12-1965). Và Hội nghị xác định nhiệm vụ của công tác tư tưởng là:

Giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân nhận rõ nhiệm vụ lịch sử vô cùng vẻ vang của nhân dân ta là chiến đấu chống một kẻ thù mạnh nhất và nguy hiểm nhất của loài người là đế quốc Mỹ, làm cho mọi người tin tưởng vững chắc rằng với đường lối đúng đắn của Đảng, với tinh thần dũng cảm chiến đấu của quân và dân ta, chúng ta có thể đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của đế quốc Mỹ.

Giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho nhân dân, nhất là cho bộ đội và thế hệ thanh niên, làm cho mọi người sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào, chiến đấu anh dũng với bất cứ kẻ thù nào, đánh bại bất cứ loại chiến tranh nào của địch.

Làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu rõ trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta ở miền Bắc là phải tích cực tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, phục vụ không điều kiện cho tiền tuyến miền Nam và hết sức giúp đỡ cách mạng Lào, làm cho mọi người hăng hái dốc sức ra làm tròn bất cứ nhiệm vụ nào của Đảng và chính phủ giao phó. Như vậy, chủ trương "chuyển hướng tư tưởng" ở miền Bắc được Đảng ta xác định từ Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (3-1965) và tiếp tục được khẳng định, bổ sung, cụ thể hoá ở Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965) cùng các chỉ thị, nghị quyết sau đó của Trung ương về công tác tư tưởng. Nội dung cơ bản của chủ trương là chuyển hướng công tác tư tưởng của Đảng theo hướng: Làm cho toàn thể nhân dân miền Bắc hiểu rõ tình hình miền Bắc không còn ở trong thời bình nữa mà đã chuyển sang thời chiến; nhiệm vụ thiêng liêng nhất của toàn Đảng toàn quân và toàn dân ta lúc này là nhiệm vụ chống Mỹ, cứu nước; toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ trong bất kể tình huống nào. Nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất được Trung ương nhấn mạnh nhiều lần, đó là công tác tuyên truyền của Đảng phải tập trung khơi dậy và phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng và tư tưởng quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, dù phải hy sinh, gian khổ đến mấy.

Đó là một chủ trương đúng đắn và có ý nghĩa to lớn trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền, cổ động của Đảng ở miền Bắc thời gian này. Từ chủ trương này, những vấn đề căn bản nhất của công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền, cổ động nói riêng được xác định kịp thời và chính xác. Nhờ đó, công tác tuyên truyền, cổ động chính trị của Đảng ở miền Bắc được triển khai mạnh mẽ, rầm rộ và liên tục trong suốt những năm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần to lớn vào việc động viên, cổ vũ tinh thần chiến đấu và sản xuất của nhân dân miền Bắc, biến sức mạnh tinh thần đó thành sức mạnh vật chất vượt qua mọi gian nan, thử thách, giành thắng lợi cuối cùng trong cuộc chiến đấu không cân sức giữa dân tộc ta và đế quốc Mỹ. Chuyển hướng tư tưởng của Đảng ở miền Bắc những năm 65-75 là một bài học vô cùng quý giá, thiết nghĩ chúng ta cần nghiên cứu sâu sắc và vận dụng trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn hội nhập và phát triển đất nước vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"./.

Câu 3

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP