khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

01/09/2026 11 Lưu

Trong tiến trình kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 -1954), Đảng ta lãnh dạo quân và dân ta xây dựng và phát triển thực lực kháng chiến toàn diện như thế nào?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Để đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta từng bước vừa xây dựng lực lượng, vừa chiến đấu giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

Nội dung xây dựng thực lực kháng chiến bao gồm các mặt sau:

Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị:

+ Đảng ta đã ra sức xây dựng, củng cố, và tổ chức hệ thống chính quyền và các tổ chức quần chúng, củng cố Mặt trận thống nhất, thống nhất Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận liên hiệp quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên - Việt) vào tháng 3 - 1951. Sự kiện này đánh dấu khối đại đoàn kết toàn dân đã được củng cố thêm một bước.

+ Tháng 3-1951, khối liên minh ba nước Việt - Lào - Campuchia được thành lập, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của ba dân tộc anh em trên bán đảo Đông Dương.

Xây dựng từng bước nền kinh tế kháng chiến:

+ Coi trọng phát triển sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp bảo đảm yêu cầu ăn no, đánh thắng cho các lực lượng vũ trang.

+ Củng cố và phát triển thương nghiệp, tài chính, ngân hàng.

Ban hành thuế nông nghiệp, thuế xuất, nhập khẩu, thuế hàng hoá... Năm 1951, Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập, mậu dịch quốc doanh cũng ra đời.

Nhờ thực hiện tích cực các chủ trương kinh tế, tài chính của Đảng, nên cuối năm 1953, lần đầu tiên trong kháng chiến việc thu chi trong ngân sách được cân bằng.

Phát triển nền văn hoá, giáo dục trong kháng chiến:

+ Tháng 7-1948, Hội nghị văn hoá toàn quốc đã họp, đồng chí Trường Chinh đã trình bày bản báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam" vạch rõ đường lối, phương châm xây dựng nền văn hoá mới của Đảng.

+ Năm 1950, Đảng đề ra chủ trương cải cách giáo dục theo đường lối giáo dục mới. Phong trào xoá bỏ nạn mù chữ ở vùng tự do phát triển mạnh...

Từng bước cải cách dân chủ về kinh tế, đem lại quyền lợi ruộng đất cho nông dân:

+ Từ năm 1946 đến năm 1949, Đảng đề ra chủ trương giảm tô 25%, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc Việt gian chia cho dân cày, tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân.

+ Từ năm 1949 đến năm 1953, thực hiện chính sách thuế nông nghiệp, hoãn nợ, xoá nợ nhằm hạn chế sự bóc lột của địa chủ.

+ Năm 1953, quyết định phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại ruộng công. Đây là bước mở đầu cho cuộc cách mạng của quần chúng trên mặt trận phản phong, tạo tiền đề cho cải cách ruộng đất.

+ Trong những năm 1953 - 1954, nhằm tạo động lực đẩy mạnh cuộc kháng chiến, Đảng phát động cải cách ruộng đất, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng". Tháng 12-1953, Quốc hội thông qua Luật cải cách ruộng đất. Cuộc vận động giảm tô và cải cách ruộng đất đã thực hiện ở một số địa phương trong vùng tự do.

Qua đó mà tinh thần và vật chất của hàng triệu nông dân đượm động viên mạnh mẽ.

Cuộc vận động cải cách ruộng đất góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân:

Lực lượng vũ trang nhân dân gồm ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân kháng chiến. Cùng với việc phát triển quân du kích và bộ đội địa phương, Đảng đã lãnh đạo xây dựng và phát triển bộ đội chủ lực.

+ Năm 1949, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đại đoàn 308 - đại đoàn quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

+ Đến giữa năm 1954, bộ đội chủ lực của ta đã có 6 đại đoàn bộ binh, một đại đoàn công binh, pháo binh và nhiều trung đoàn bộ binh, lực lượng vũ trang tập trung có khoảng 33 vạn người.

Sự lớn mạnh của lực lượng vũ trang gồm ba thứ quân, đặc biệt là sự hình thành các đại đoàn chủ lực, đáp ứng yêu cầu đánh lớn của cuộc kháng chiến.

Xây dựng Đảng vững mạnh để lãnh đạo cuộc kháng chiến đến thắng lợi:

Cuộc kháng chiến ngày càng lớn mạnh đòi hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Trong 2 năm 1948-1949, Đảng kết nạp hơn 50 vạn đảng viên.

Đầu năm 1950, toàn Đảng có hơn 76 vạn đảng viên. Cơ sở đảng được xây dựng ở hầu hết các làng xã, xí nghiệp và trong các lực lượng vũ trang. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức cách mạng cho đảng viên được đẩy mạnh.

Tuy nhiên, trong công tác xây dựng đảng ở nhiều nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng chất lượng.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

1. Hoàn cảnh

Nhật xâm lược Đông Dương. Nhật – Pháp cấu kết với nhau đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Song, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt. Bấy giờ, Đảng ta đã dự đoán: nhất định Nhật – Pháp sẽ thôn tính lẫn nhau.

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Đờgôn trở lại Pari. Quân Anh đánh lui quân Nhật ở Miến Điện. Mỹ đổ bộ lên Philippin, khống chế phần đường biển từ Nhật Bản đến Inđônêxia.

Thực dân Pháp theo phái Đờgôn ở Đông Dương ngóc đầu dậy, hoạt động ráo riết, chờ quân Đồng minh vào sẽ lật đổ Nhật để khôi phục quyền thống trị.

Phát xít Nhật đứng trước tình thế thất bại ở Thái Bình Dương nên phải nhanh chóng làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp.

Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9-3-1945 đến 10-3-1945 đã đánh giá tình hình, nhận định thời cơ khởi nghĩa và ra bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.

2. Nội dung chủ yếu của bản Chỉ thị

Thứ nhất, xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật. Thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” và đưa ra khẩu hiệu “thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.

Thứ hai, phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Phải có những hình thức tuyên truyền, đấu tranh phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như: đẩy mạnh tuyên truyền vũ trang, biểu tình, tuần hành, thị uy, bãi công chính trị, phá các kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, lập chính quyền bộ phận, mở rộng căn cứ địa cách mạng để khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang Tổng khởi nghĩa.

Thứ ba, dự đoán thời cơ khởi nghĩa:

  • Quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở.

  • Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập.

  • Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940. Quân đội viễn chinh Nhật hoang mang, mất hết tinh thần.

Chỉ thị còn nói rõ không được ỷ lại vào bên ngoài khi tình thế biến chuyển thuận lợi, mà phải dựa vào sức mình là chính.

3. Ý nghĩa lịch sử

Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên quyết và kịp thời của Đảng ta, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, của Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi.

Khi Nhật đầu hàng, mặc dù chưa nhận lệnh của Trung ương Đảng, nhưng do nắm vững nội dung bản Chỉ thị nên nhiều địa phương đã chủ động, sáng tạo, mau lẹ, kịp thời khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa thành công trong những ngày tháng Tám.

Lời giải

Hoàn cảnh lịch sử

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp đã tham chiến. Ở Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị thời chiến.

Trước sự biến động lớn đó, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, định ra chủ trương, chính sách mới cho phù hợp với tình hình mới.

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939), đặc biệt là Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã khẳng định nội dung, tư tưởng điều chỉnh chiến lược trong thời kỳ mới. Đường lối của Đảng về cách mạng giải phóng dân tộc đã được bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh.

Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng

Thứ nhất, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, nhằm tập trung giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc.

Trong “Thông cáo cho các đồng chí ở các cấp” ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng vạch rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng... Tất cả các đồng chí phải thấu hiểu vấn đề dân tộc giải phóng..., gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng”.

Trung ương Đảng xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương không phải là đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến nói chung, mà là chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản bội dân tộc.

“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc”.

“Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”; “trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”; “trong giai đoạn hiện tại... nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời, mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”.

“Cuộc cách mạng ở Đông Dương là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.

Thứ hai, sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia độc lập tùy ý.

Đối với nước ta, sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc, Chính phủ do Quốc hội bầu ra.

Thứ ba, liên hiệp tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị, đảng phái vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc thật rộng rãi, lấy liên minh công – nông làm cơ sở.

Muốn vậy cần phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân.

Trung ương quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh. Đối với các dân tộc Campuchia và Lào, Đảng chủ trương lập “Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh”, để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh.

Còn các tổ chức quần chúng thì lập thành các hội cứu quốc như: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, v.v..

Thứ tư, chuyển hướng hình thức đấu tranh, từ đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đòi quyền lợi dân chủ, dân sinh, sang đấu tranh chính trị bí mật, bất hợp pháp, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là trung tâm của Đảng và nhân dân ta, phải ra sức chuẩn bị lực lượng trong toàn quốc và nhằm đúng vào những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ý nghĩa của sự điều chỉnh chiến lược

Từ Hội nghị lần thứ 6 đến Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự điều chỉnh chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới đã hoàn chỉnh.

Trong hoàn cảnh dân tộc ta một cổ đôi tròng, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội ta đã phát triển đến độ gay gắt nhất, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đặt ra một cách trực tiếp, quyền lợi dân tộc giải phóng đặt lên cao hơn hết.

Đảng đã có chủ trương thực hiện cho được mục tiêu chủ yếu là độc lập dân tộc, đề ra hàng loạt chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, tích cực mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tích cực chuẩn bị và tiến lên khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền.

Đường lối đó hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, của các dân tộc ở Đông Dương, có khả năng động viên cả dân tộc đoàn kết đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật.

Sự điều chỉnh chiến lược đúng đắn đó đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP