Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6- 1991) đã đánh giá về quá trình thực hiện đổi mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ở nước ta trong những năm 1987 - 1991 như thế nào?
Quảng cáo
Trả lời:
Từ năm 1987-1991 là thời gian có nhiều thử thách đối với Đảng và nhân dân ta. Đứng trước cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội của đất nước và diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế, Đảng ta đã kiên trì đường lối đổi mới, đề ra và lãnh đạo nhân dân ta thực hiện có kết quả một số chủ trương, chính sách lớn về đối nội và đối ngoại, mở ra hướng phát triển mới của đất nước.
Về đánh giá thành tựu
Đại hội đã nêu ra nhận định: "tổng quát lại, sau hơn bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng".
Về kinh tế - xã hội: đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện ba chương trình kinh tế (lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu). Về lương thực - thực phẩm: đã vươn lên đáp ứng nhu cầu trong nước, có dự trữ và xuất khẩu, góp phần quan trọng ổn định đời sống nhân dân. Hàng tiêu dùng có bước phát triển mới cả về sản xuất và lưu thông. Hàng hoá đa dạng và lưu thông tương đối thuận tiện, có tiến bộ về chất lượng.
Kinh tế đối ngoại được mở rộng cả về quy mô và hình thức: Kim ngạch xuất khẩu tăng. Đã giảm được mức độ nhập siêu trước đây.
Có chuyển biến tích cực trong việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư và bố trí lại cơ cấu kinh tế. Nhiều công trình công nghiệp nặng quan trọng được khởi công từ những năm trước đã
được đưa vào sử dụng. Đã hình thành một số ngành sản xuất mới có triển vọng tốt như dầu khí, công nghiệp lắp ráp hàng điện tử... Nhiều loại hình, nhiều tổ chức kinh doanh, sản xuất, dịch vụ mới ra đời và phát triển nhanh góp phần thúc đẩy kinh tế hàng hoá và phục vụ đời sống nhân dân.
Bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, đã góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, giải phóng năng lực sản xuất trong xã hội.
Đã kiềm chế được một bước đà lạm phát. Giá trị đồng tiền Việt Nam được tăng lên, sức mua của nhân dân được khôi phục dần.
Khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển và bước đầu phát huy được vai trò động lực trong việc phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường nghiên cứu ứng dụng, góp phần phát triển sản xuất.
Kết quả của quá trình đổi mới kinh tế nói trên đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, mặc dầu còn nhiều khó khăn.
Về chính trị: "tình hình chính trị ổn định", tuy vậy, vẫn còn những nhân tố có thể gây mất ổn định không thể xem thường.
Sự ổn định chính trị nói trên bắt nguồn từ truyền thống yêu nước và kinh nghiệm lịch sử của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là kết quả tổng hợp của những tiến bộ bước đầu về kinh tế, đời sống, về thực hiện dân chủ hoá xã hội, cùng với những thành tựu trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại... đã góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân ta vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội, vào sự lãnh đạo của Đảng ta. Đó là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm sự ổn định chính trị trước những tác động phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước.
Tuy vậy, chúng ta phải đề cao cảnh giác không thể xem thường những nhân tố trong nước và ngoài nước có thể gây mất ổn định. Đảm bảo tình hình chính trị nước ta luôn ổn định, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Về văn hoá, giáo dục và y tế: mặc dầu còn nhiều khó khăn, song đã đạt được một số tiến bộ đáng kể.
Các mặt quốc phòng, an ninh, đối ngoại đạt được những thành tựu quan trọng: Quốc phòng được giữ vững, an ninh quốc gia được bảo đảm. Từng bước phá thế bao vây về kinh tế và chính trị, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo ra môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những thành tựu nói trên tuy là bước đầu nhưng rất quan trọng, bởi vì nhân dân ta đã đạt được các thành tựu nói trên trong điều kiện trong nước có những khó khăn gay gắt, quốc tế có những diễn biến phức tạp và chủ nghĩa đế quốc tiếp tục bao vây, cấm vận và chống phá cách mạng nước ta. Mặt khác, những thành tựu nói trên chứng tỏ rằng: đường lối đổi mới do Đại hội VI đề ra là đúng đắn, bước đi của công cuộc đổi mới về cơ bản là phù hợp. Qua thực tiễn, chúng ta có thêm những nhận thức mới và kinh nghiệm quan trọng về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm nước ta. Đó là cơ sở rất quan trọng để chúng ta tiếp tục tiến lên.
Về khó khăn, yếu kém và khuyết điểm
Đất nước ta vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; công cuộc đổi mới còn có những mặt hạn chế, nhiều vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng chưa được giải quyết. Đáng chú ý là những vấn đề lớn sau đây:
Lạm phát còn ở mức cao, nhiều cơ sở sản xuất đình đốn kéo dài, lao động thiếu việc làm tiếp tục tăng lên.
Chế độ lương quá bất hợp lý, đời sống của người ăn lương hoặc trợ cấp xã hội và một bộ phận nhân dân bị giảm sút. Tốc độ tăng dân số còn cao.
Sự nghiệp văn hoá, xã hội có những mặt tiếp tục xuống cấp.
Tình trạng tham nhũng, bất công xã hội chưa giải quyết được nhiều; lối sống thực dụng, mê tín dị đoan phát triển.
Tình trạng vi phạm dân chủ còn nhiều. Việc thực hiện kỷ cương, pháp luật chưa nghiêm.
An ninh, trật tự và an toàn xã hội còn phức tạp. Vẫn có những nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị không thể xem thường.
Bộ máy đảng, nhà nước và các đoàn thể nhân dân còn cồng kềnh, phong cách làm việc còn quan liêu, kém hiệu lực.
Không ít cán bộ, đảng viên không đủ phẩm chất và năng lực đảm đương nhiệm vụ, thậm chí thoái hoá biến chất, không được quần chúng tín nhiệm.
Đại hội cũng chỉ ra rằng: nguyên nhân của những mặt khó khăn, yếu kém nói trên có phần là do hậu quả của nhiều năm trước đây để lại và là khó khăn của quá trình đi lên, vừa do những tác động bất lợi của tình hình thế giới. Song, cần nhấn mạnh những khuyết điểm chủ quan trong sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước: chưa kịp thời đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới; khuyết điểm về công tác tổ chức cán bộ, về nâng cao chất lượng đảng viên; thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý, còn nhiều thiếu sót, sơ hở trong quản lý, điều hành các mặt của đời sống kinh tế - xã hội...
Đánh giá đúng thành tựu và khó khăn, khuyết điểm, chỉ ra những bài học kinh nghiệm của hơn bốn năm thực hiện đường lối đổi mới là cơ sở quan trọng để Đảng ta và nhân dân ta phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt những mục tiêu kinh tế - xã hội trong 5 năm tới do Đại hội VII đề ra.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
1. Hoàn cảnh
Nhật xâm lược Đông Dương. Nhật – Pháp cấu kết với nhau đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Song, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt. Bấy giờ, Đảng ta đã dự đoán: nhất định Nhật – Pháp sẽ thôn tính lẫn nhau.
Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Đờgôn trở lại Pari. Quân Anh đánh lui quân Nhật ở Miến Điện. Mỹ đổ bộ lên Philippin, khống chế phần đường biển từ Nhật Bản đến Inđônêxia.
Thực dân Pháp theo phái Đờgôn ở Đông Dương ngóc đầu dậy, hoạt động ráo riết, chờ quân Đồng minh vào sẽ lật đổ Nhật để khôi phục quyền thống trị.
Phát xít Nhật đứng trước tình thế thất bại ở Thái Bình Dương nên phải nhanh chóng làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp.
Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9-3-1945 đến 10-3-1945 đã đánh giá tình hình, nhận định thời cơ khởi nghĩa và ra bản Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
2. Nội dung chủ yếu của bản Chỉ thị
Thứ nhất, xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật. Thay khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật – Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật” và đưa ra khẩu hiệu “thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.
Thứ hai, phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa. Phải có những hình thức tuyên truyền, đấu tranh phù hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như: đẩy mạnh tuyên truyền vũ trang, biểu tình, tuần hành, thị uy, bãi công chính trị, phá các kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, lập chính quyền bộ phận, mở rộng căn cứ địa cách mạng để khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang Tổng khởi nghĩa.
Thứ ba, dự đoán thời cơ khởi nghĩa:
-
Quân Đồng minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng minh để phía sau sơ hở.
-
Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập.
-
Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940. Quân đội viễn chinh Nhật hoang mang, mất hết tinh thần.
Chỉ thị còn nói rõ không được ỷ lại vào bên ngoài khi tình thế biến chuyển thuận lợi, mà phải dựa vào sức mình là chính.
3. Ý nghĩa lịch sử
Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên quyết và kịp thời của Đảng ta, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, của Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi.
Khi Nhật đầu hàng, mặc dù chưa nhận lệnh của Trung ương Đảng, nhưng do nắm vững nội dung bản Chỉ thị nên nhiều địa phương đã chủ động, sáng tạo, mau lẹ, kịp thời khởi nghĩa từng phần, tiến lên Tổng khởi nghĩa thành công trong những ngày tháng Tám.
Lời giải
Hoàn cảnh lịch sử
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Chính phủ Pháp đã tham chiến. Ở Đông Dương, thực dân Pháp đã thi hành chính sách thống trị thời chiến.
Trước sự biến động lớn đó, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, định ra chủ trương, chính sách mới cho phù hợp với tình hình mới.
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (11-1939), đặc biệt là Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5-1941), do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, đã khẳng định nội dung, tư tưởng điều chỉnh chiến lược trong thời kỳ mới. Đường lối của Đảng về cách mạng giải phóng dân tộc đã được bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh.
Nội dung chủ yếu của chủ trương điều chỉnh chiến lược cách mạng
Thứ nhất, Đảng đã kịp thời điều chỉnh chiến lược, nhằm tập trung giải quyết nhiệm vụ hàng đầu là đánh đổ đế quốc và tay sai, giành độc lập dân tộc.
Trong “Thông cáo cho các đồng chí ở các cấp” ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng vạch rõ: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng... Tất cả các đồng chí phải thấu hiểu vấn đề dân tộc giải phóng..., gây cho tất cả các tầng lớp dân chúng hiểu biết tinh thần dân tộc giải phóng”.
Trung ương Đảng xác định kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương không phải là đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến nói chung, mà là chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai phản bội dân tộc.
“Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng, để tranh lấy giải phóng dân tộc”.
“Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta”; “trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn phải chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”; “trong giai đoạn hiện tại... nếu không đánh đuổi được Pháp – Nhật thì vận mạng của dân tộc phải chịu kiếp ngựa trâu muôn đời, mà vấn đề ruộng đất cũng không làm sao giải quyết được”.
“Cuộc cách mạng ở Đông Dương là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”.
Thứ hai, sau khi giành độc lập, các dân tộc sống trên bán đảo Đông Dương muốn lập ra một chính phủ liên bang hay đứng riêng thành một quốc gia độc lập tùy ý.
Đối với nước ta, sau khi đánh đuổi Pháp – Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của toàn quốc, Chính phủ do Quốc hội bầu ra.
Thứ ba, liên hiệp tất cả các giai cấp và tầng lớp nhân dân không phân biệt tôn giáo, xu hướng chính trị, đảng phái vào một mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc thật rộng rãi, lấy liên minh công – nông làm cơ sở.
Muốn vậy cần phải vận dụng một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân.
Trung ương quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh”, gọi tắt là Việt Minh. Đối với các dân tộc Campuchia và Lào, Đảng chủ trương lập “Mặt trận Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh”, để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh.
Còn các tổ chức quần chúng thì lập thành các hội cứu quốc như: công nhân cứu quốc, nông dân cứu quốc, thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, v.v..
Thứ tư, chuyển hướng hình thức đấu tranh, từ đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp đòi quyền lợi dân chủ, dân sinh, sang đấu tranh chính trị bí mật, bất hợp pháp, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là trung tâm của Đảng và nhân dân ta, phải ra sức chuẩn bị lực lượng trong toàn quốc và nhằm đúng vào những điều kiện chủ quan và khách quan thuận lợi, đi từ khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở địa phương, tiến lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Ý nghĩa của sự điều chỉnh chiến lược
Từ Hội nghị lần thứ 6 đến Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, sự điều chỉnh chiến lược của Đảng trong thời kỳ mới đã hoàn chỉnh.
Trong hoàn cảnh dân tộc ta một cổ đôi tròng, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội ta đã phát triển đến độ gay gắt nhất, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đặt ra một cách trực tiếp, quyền lợi dân tộc giải phóng đặt lên cao hơn hết.
Đảng đã có chủ trương thực hiện cho được mục tiêu chủ yếu là độc lập dân tộc, đề ra hàng loạt chủ trương và biện pháp cách mạng đúng đắn, tích cực mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tích cực chuẩn bị và tiến lên khởi nghĩa vũ trang, giành chính quyền.
Đường lối đó hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, của các dân tộc ở Đông Dương, có khả năng động viên cả dân tộc đoàn kết đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật.
Sự điều chỉnh chiến lược đúng đắn đó đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng ta, có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.