Nội dung và ý nghĩa của bài học kinh nghiệm tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế ?
Quảng cáo
Trả lời:
Nội dung của bài học kinh nghiệm:
Cơ sở lý luận của bài học này là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ gắn bó giữa đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng mở ra khả năng thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế.
Đây là một vấn đề chiến lược, là một nhân tố quan trọng quyết định thành công của cách mạng nước ta. Vì vậy, trong mọi thời kỳ vận động cách mạng, Đảng ta đã nhận thức và quán triệt tư tưởng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong đường lối chiến lược và sách lược của mình.
+ Trong cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã chỉ rõ: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, ủng hộ Liên bang Xôviết, liên kết với giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp và đoàn kết với phong trào cách mạng thuộc địa, và nửa thuộc địa nhất là Trung Quốc và Ấn Độ...
+ Trong thời kỳ 1930 đến 1945, Đảng ta không ngừng xây dựng và củng cố khối đoàn kết dân tộc qua các mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở khối liên minh công nông vững chắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của đường lối đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế của Đảng.
+ Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta đã huy động được sức mạnh to lớn của khối đoàn kết toàn dân với khẩu hiệu "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" và khẩu hiệu "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, tạo thành sức mạnh tổng hợp đưa hai cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.
+ Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc hiện nay của nhân dân ta, vấn đề tăng cường đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế vẫn luôn luôn là một nhân tố cực kỳ quan trọng tác động đến tiến trình phát triển của cách mạng nước ta, nhất là trong tình hình các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng và sụp đổ, nước ta cũng có nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội thì hơn lúc nào hết cần phải tăng cường khối đoàn kết dân tộc và đoàn kết hợp tác với tất cả các nước trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, xã hội, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giúp đỡ nhau, cùng có lợi. Có như vậy, thì nước ta mới vượt qua được thách thức, tận dụng được thời cơ phát triển.
Để tăng cường đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, kinh nghiệm lịch sử cho thấy
Muốn thực hiện đoàn kết dân tộc phải luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân — giai cấp tiêu biểu cho lợi ích của dân tộc và lợi ích của giai cấp.
Phải luôn luôn tôn trọng nguyên tắc "lấy dân làm gốc", coi sự nghiệp cách mạng là của dân, do dân và vì dân, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, xem đây vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đoàn kết dân tộc, tạo tiền đề cho việc đoàn kết quốc tế.
Phải luôn luôn nêu cao ý thức tự lực tự cường, tinh thần độc lập tự chủ của nhân dân ta, đồng thời ra sức tranh thủ sự đoàn kết và hợp tác, giúp đỡ quốc tế đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Phải thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả, coi việc tăng cường đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế vừa là vì lợi ích dân tộc, vừa là nghĩa vụ của nhân dân ta đối với nhân dân các nước khác.
Trong khi tăng cường và mở rộng đoàn kết, hợp tác quốc tế, chúng ta không được lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu chống phá cách mạng thế giới và cách mạng nước ta từ phía chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Qua 3 văn kiện là: Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch HCM ngày 19/12/1946; Chỉ thị Toàn quốc kháng chiến của Trung ương Đảng ngày 22/12/1946 và Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh năm 1947. Đảng ta đã đưa ra đường lối kháng chiến.
Với mục tiêu giành độc lập và thống nhất Tổ quốc vì ta đã có độc lập rồi nhưng chưa hoàn toàn khi mà đế quốc, phong kiến còn trên lãnh thổ nước ta. Cuộc kháng chiến vẫn tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, thống nhất cả nước đi lên CNXH mà Đảng ta đã đặt ra. Đảng ta đã đưa ra phương châm: Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý mà CN Mác - Lênin đã chỉ ra: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Truyền thống của cách mạng ta đều là do toàn dân làm như Nguyễn Trãi đã nói: Người trở thuyền cũng là dân, người làm lật thuyền cũng là dân. Hay như Bác đã nói: “Dễ trăm lần không dân không chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”.
Trong thực tiễn, chỉ có chính nghĩa mới có mục đích phù hợp với nguyện vọng của toàn dân, do đó mà huy động được sức mạnh của toàn dân.
Kháng chiến toàn dân là toàn dân tham gia, cả nước tham gia đánh giặc, đánh bằng bất cứ thứ vũ khí gì có trong tay, đánh giặc ở bất cứ nơi nào mà chúng tới.
Kháng chiến toàn diện: là kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa… Chiến tranh là cuộc đọ sức giữa hai bên tham chiến mà theo Lênin thì chiến tranh là cuộc đọ sức toàn diện của dân tộc. Muốn tạo ra sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù mạnh hơn ta về quân sự thì ngoài việc tập hợp toàn bộ sức mạnh của toàn dân thì phải tập hợp được sức mạnh tiềm tàng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và quan trọng nhất là quân sự.
Kháng chiến lâu dài: Do tương quan lực lượng giữa ta và địch, khi bước vào kháng chiến ta kém địch về nhiều mặt nên phương châm đánh địch của ta là đánh lâu dài, phải có thời gian chuyển hóa lực lượng, vừa đánh vừa xây dựng lực lượng nhằm đánh bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của địch và chuyển hóa so sánh lực lượng có lợi cho ta. Nó là vận động quy luật lấy nhỏ đánh lớn mà cuộc chiến của ta là chính nghĩa nên càng đánh càng mạnh, do đó mà có cơ sở để kéo dài. Nhưng lâu dài không có nghĩa là vô hạn mà phải có giới hạn, vào mỗi trận đánh phải quán triệt tư tưởng đánh nhanh thắng nhanh. Từng cuộc kháng chiến phải trải qua 3 giai đoạn: phòng ngự, cầm cự và tổng tiến công.
Dựa vào sức mình là chính: trong điều kiện đất nước bị bao vây, chúng ta không thể trông đợi vào bên ngoài, cho nên Đảng ta khẳng định phải dựa vào sức mình là chính – lấy sức ta mà giải phóng cho ta như Chủ tịch HCM đã kêu gọi – độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến. Nhưng khi có điều kiện liên hệ được với bên ngoài thì phải tranh thủ sự giúp đỡ của nước ngoài.
Lời giải
Mục tiêu đến năm 2000:
Đây là bước phát triển mới, đẩy mạnh CNH_ HĐH đất nước .tập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ vượt qua thử thách để đẩy mạnh công cuộc đổi mới 1 cách đồng bộ.
Tiếp tục phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN . Phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được đề ra trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế XH đến năm 2000.
Tăng trưởng kinh tế nhanh hiệu quả và bền vững đi đôi với giải quyết những vấn đề bức xúc về XH bảo đảm an ninh quốc phòng cải thiện đời sống nhân dân năng cao tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao vào đầu thế kỷ sau .
Quan điểm của đảng về công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế , đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ đối ngoại dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với việc tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài . XD một nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và trên thế giới , hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước, sản xuất có hiệu quả.
CNH_HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế trong đó kinh tế nông nghiệp là chủ đạo.
Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Toàn Đ, toàn dân cần kiệm XD đất nước, không ngừng tăng cường tích luỹ cho đầu tư phát triển, tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, phát triển văn hoá giáo dục thực hiện tiến bộ và công bằng XH, bảo vệ môi trường.
Khoa học và công nghệ là động lực của CNH- HĐH. Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. Tranh thủ đi nhanh vào hiện đại và những khâu quyết định.
Lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chuẩn cơ bản để XD phương án phát triển lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ, đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực hiện có. Trong phát triển mới ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh, đồng thời XD một mũi nhọn trong từng bước phát triển tập chung thích đáng nguồn lực cho những trọng điểm, cho những địa bàn trọng điểm. Đồng thời quan tâm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của mọi vùng trong nước. Có chính sách hỗ trợ những vùng khó khăn tạo điều kiện cho mọi vùng đều phát triển.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh. Mục tiêu CNH-HĐH đến năm 2020:
XD nước ta thành một nước công nghiệp. Có cơ sở vật chất kỹ thuật hiên đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng SX, đời sống vật chất tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh XH công bằng, dân chủ, văn minh. Từ nay đến năm 2020 ra sức phấn đấu XD đưa nước ta trở thành 1 nước công nghiệp: nước CN là một nước trong đó lao động CN trở thành phổ biến trong tất cả các ngành kinh tế. Chỉ tiêu chủ yếu cho 1 nước công nghiệp là có chỉ tiêu của tấtt cả các tỷ trọng vượt trội so với một nước nông nghiệp.
Không có CNH thì không có cơ sở vật chất của CNXH. Cơ sở của CNXH là : đại hội VIII khẳng định cơ sở để ta chuyển sang thời kỳ mới CNH-HĐH có những cơ sở sau:
+ Xuất phát từ kết quả 10 năm đổi mới với những tiên đề đã được tạo ra đồng thời dựa trên sự phân tích cục diện tình hình thế giới ngày nay có những biến động, với những thắng lợi to lớn nhưng cũng đan xen nhiều khó khăn phức tạp mới: ta đã đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinhtế trên nhiều mặt làm cho đời sống nhân dân khá hơn, KHCN phát triển …
+ Xu thế chung của thế giới ngày nay là hoà bình hợp tác phát triển, cách mạng KHKT ngày càng phát triển cao do đó chúng ta không thể đứng ngoài xu thế này nên ta phải CNH- HĐH .Tiền đề vật chất và sự ổn định nhiều mặt: quốc phòng an ninh chính trị … cho phép ta đẩy mạnh CNH- HĐH. Tuy nhiên ta chưa có đủ tiền đề nhưng trong quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH sẽ tạo ra tiền đề, sẽ hoàn chỉnh dần các tiền đề. Đó là biện chứng của sự phát triển (tác động qua lại lẫn nhau). Vì vậy không thể cho đủ tiền đề để đẩy mạnh CNH – HDH
+ Hoàn thành CNH- HĐH mới là hoàn thành tiên đề V/C cơ sở kỹ thuật , chứ chưa hoàn thành thời kỳ quá độ, chưa thể nói là nước phát triển được. Trở thành 1 nước CN chưa có nghĩa là hoàn thành CNH- HĐH. Cơ bản hoàn thành CNH –HĐH chưa hoàn thành nhiệm vụ của thời kỳ quá độ. Kết thúc thời kì quá độ có nhiều vấn đề khác: QHSX, trình độ phát triển của lực lượng SX, QHSX phải phù hợp với CNH-HĐH, mà CNH-HĐH chỉ là một công cụ cho kiến trúc thượng tầng . Khi hoàn thành thời kì quá độ, hoàn chỉnh về tư tưởng con người – con người có CNXH phải trải qua một bước rất dài mới tiến lên được CNCS.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.