khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

02/09/2026 66 Lưu

Đường lối đổi mới? Vì sao phải đổi mới, phương hướng đổi mới? Nội dung đổi mới? Vì sao phải thực hiện sự nghiệp đổi mới?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Đổi mới là phù hợp với xu thế chung của thời đại:

Xuất phát từ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin:

“Đổi mới là đặc tính của cách mạng XHCN”; “Cơ sở kinh tế của CNXH chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí”.

Khi bước vào những năm 80 của thế kỷ XX, trình độ quốc tế hóa về kinh tế thế giới ngày càng sâu sắc. Nếu ta không nằm trong quỹ đạo, ta sẽ bị bật ra khỏi thế giới, do đó ta phải đổi mới chính sách.

Nếu có đường lối đúng, ta không những tận dụng được nguồn vốn mà còn vận dụng được cả thị trường, do đó phải năng động đổi mới.

Những năm đầu của thập kỷ 80, đặc biệt năm 85 trở đi, Liên Xô và các nước Đông Âu nổi lên làn sóng cải cách, cải tổ cơ chế quan liêu bao cấp của CNXH, làm cho nó lâm vào khủng hoảng và thời kỳ này là thời kỳ khủng hoảng nhất của chế độ quan liêu bao cấp, dẫn đến khủng hoảng kinh tế ở Đông Âu. Trong khi đó, các nước TBCN biết vươn lên lấy cơ hội để phát triển và có nhiều thành tựu:

Ở châu Á, Trung Quốc đã khởi xướng công cuộc cải cách, cải tổ từ Đại hội 12 tới Đại hội 13.

Trên thế giới, việc đổi mới trở thành nhu cầu tất yếu, là nhiệm vụ sống còn đối với mọi quốc gia, do đó VN phải đổi mới.

Thực tiễn ở VN sau 80 năm chiến tranh, nhân dân chịu nhiều đau khổ, mọi người muốn sống một cuộc sống hạnh phúc, hòa bình, ấm no và chất lượng cuộc sống. Đảng cố gắng tìm tòi chính sách mới nhưng càng làm càng sụp đổ, một số chủ trương, chính sách về kinh tế và xã hội đều được nghiên cứu nhưng khi thực hiện lại biểu hiện những sai lầm, những hạn chế, mắc những sai lầm, khuyết điểm lớn: Nguyện vọng của đất nước như vậy nhưng ta làm không đúng, gây ra lạm phát, tiêu cực rất nhiều, làm lòng tin của dân đối với Đảng giảm sút, do đó phải nhanh chóng đổi mới.

Nội dung đổi mới: đổi mới toàn diện

Trước hết, đổi mới về tư duy kinh tế.

Đổi mới về tổ chức.

Đổi mới về đội ngũ cán bộ.

Và đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác của Đảng.

Vì sao phải đổi mới tư duy:

Bởi tư duy là trình độ cao của nhận thức (là toàn bộ những hiện thực khách quan phản ánh vào đầu óc con người mà nhận thức và so sánh, tập hợp được sự vật, hiện tượng), đổi mới phương pháp tư duy dẫn tới hành động, nhận thức cao – lý luận cao.

Từ quan điểm của CN Mác - Lênin về vai trò của lý luận và tư duy lý luận: “Không có tư duy con người thì không có lao động cách mạng”; chỉ có lực lượng cách mạng mới có phong trào cách mạng, phải có lực lượng tiên phong mới đảm đương được nhiệm vụ tiên phong.

Lực lượng cách mạng khoa học phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan thì thúc đẩy sự phát triển của lực lượng và ngược lại. Mà Đảng ta lãnh đạo cách mạng bằng đường lối, mà đường lối chính là tư duy cao. Nếu đường lối đúng, xã hội sẽ phát triển, còn đường lối sai sẽ kìm hãm sự phát triển.

Nhận thức chưa đúng quy luật kinh tế khách quan: quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Quy luật phổ biến trong thời kỳ quá độ: trong thời kỳ quá độ phải sản xuất hàng hóa, do đó có nhiều thành phần kinh tế dẫn đến có bóc lột (thuê CN). Trong thời kỳ này, đổi mới tư duy là đổi mới về nhận thức. Song đổi mới không có nghĩa là phủ nhận tất cả những thành tựu đã đạt được mà là bổ sung, phát triển những thành tựu ấy.

Đổi mới tư duy kinh tế là trọng tâm.

Bởi kinh tế là nền tảng, là cơ sở tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Nếu đổi mới về tư duy kinh tế sẽ tạo ra khả năng phát triển đất nước. Vật chất quyết định mọi vấn đề khác, trên cơ sở đó sẽ có những cái khác.

Thực tế đất nước ta giai đoạn đó chỉ có thể phát triển kinh tế thì mới có thể tạo ra những bước đi vững chắc.

Phương hướng đổi mới:

Phương hướng chung: đổi mới tư duy trên tất cả các lĩnh vực của đời sống XH, đổi mới về quan điểm, bước đi, cách làm cho phù hợp với những quy luật khách quan của CNXH.

Đổi mới tư duy nhằm làm cho SX phát triển, tạo ra đời sống vật chất, tinh thần ngày càng cao cho toàn XH.

Đổi mới tư duy không phải là mục đích mà là phương tiện để đạt được mục đích xây dựng thành công CNXH.

Đổi mới tư duy phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của CN Mác - Lênin và tư tưởng HCM.

Phương hướng cụ thể: có những quan điểm trước đây đúng, nay trong điều kiện mới không còn phù hợp phải thay đổi:

Như: có những quan điểm trước đây đúng, nay vẫn đúng (trong điều kiện mới) nhưng do thực tiễn không ngừng phát triển, những quan niệm ấy không còn đáp ứng nhu cầu mới, phải bổ sung, phát triển cho phù hợp.

Có những quan niệm trước đây đúng, nay vẫn đúng nhưng do ta hiểu sai, nay phải hiểu lại, làm lại cho đúng (QHSX phải phù hợp với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất…).

Những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới:

Vì sao phải nêu ra nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới:

Lý luận: sau 2 năm thực hiện công cuộc đổi mới, ta đã giải phóng được sức SX, dân chủ được phát triển, chiến lược bảo vệ Tổ quốc được điều chỉnh hợp lý. QHSX được mở rộng nhưng đất nước vẫn chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội: nhiều người nảy sinh tư tưởng bi quan, hoài nghi con đường đi lên CNXH.

Tình hình thế giới và các nước XHCN có nhiều biến động và biến động rất phức tạp, sự tan rã của các nước XHCN bắt đầu hình thành, CNXH Liên Xô tan rã, ở TQ nền dân chủ không đi liền với chủ trương, tự do hóa dân chủ đã bị người dân TQ lợi dụng để đòi hỏi những quyền lợi và cuộc sống đầy đủ, sung túc.

Nội dung của nguyên tắc:

  • Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là cho mục tiêu ấy được thực hiện tốt hơn.

= Quan niệm đúng đắn, hình thức, biện pháp và bước đi thích hợp.

  • Đổi mới không phải là xa rời CN Mác - Lênin mà là vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin và khắc phục những quan niệm không đúng về học thuyết đó.

  • Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải nhằm tăng cường chứ không phải làm suy yếu sức mạnh của chuyên chính vô sản.

  • Xây dựng nền dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp XD CNXH, song dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo phải dựa trên cơ sở dân chủ, dân chủ với nhân dân nhưng phải chuyên chính với kẻ thù.

  • Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế XHCN, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Kết luận:

Coi 5 nguyên tắc trên là sự thống nhất tư tưởng, hành động, là những kinh nghiệm, những bài học được rút ra từ thực tiễn để chỉ đạo công cuộc đổi mới.

Đang tải chế độ Học...

Hot: 1000+ đề thi giữa kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay

ĐẶC QUYỀN VIP

Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn

Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.

  • Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
  • Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
  • Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
  • Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
  • Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
  • Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
  • Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
  • Đăng ký ngay

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Hoàn cảnh

Nhật xâm lược Đông Dương. Nhật - Pháp cấu kết với nhau đàn áp phong trào cách mạng Việt Nam. Song, mâu thuẫn giữa chúng ngày càng gay gắt. Bấy giờ Đảng, ta đã dự đoán: nhất định Nhật - Pháp sẽ thôn tính lẫn nhau.

Đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc• Nước Pháp được giải phóng, Chính phủ Đờgôn trở lại Pari. Quân Anh đánh lui quân Nhật ở Miến Điện. Mỹ đổ bộ lên Philippin, khống chế phần đường biển từ Nhật Bản đến Inđônêxia.

Thực dân Pháp theo phái Đờgôn ở Đông Dương ngóc đầu dậy, hoạt động ráo riết, chờ quân Đồng minh vào sẽ lật đổ Nhật để khôi phục quyền thống trị.

Phát xít Nhật đứng trước tình thế thất bại ở Thái Bình Dương nên phải nhanh chóng làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp.

Ban thường vụ Trung ương Đảng họp từ ngày 9-3-1945 đến 10-3-1945 đã đánh giá tình hình, nhận định thời cơ khởi nghĩa và đã ra bản Chỉ thị "Nhật — Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta".

Nội dung chủ yếu của bản Chỉ thị

Xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt và duy nhất của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật; thay khẩu hiệu đánh đuổi phátxít Nhật, Pháp bằng khẩu hiệu đánh đuổi phátxít Nhật và đưa ra khẩu hiệu "thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương".

Phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa; phải có những hình thức tuyên truyền, đấu tranh hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa như đẩy mạnh tuyên truyền võ trang, biểu tình, tuần hành, thị uy, bãi công chính trị, phá các kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, phát động chiến tranh du kích, giải phóng từng vùng, lập chính quyền bộ phận, mở rộng căn cứ địa cách mạng để khi đủ điều kiện sẽ chuyển sang tổng khởi nghĩa.

Dự đoán thời cơ khởi nghĩa:

+ Quân Đồng Minh kéo vào Đông Dương đánh Nhật, Nhật kéo ra mặt trận ngăn cản quân Đồng Minh để phía sau sơ hở.

+ Cách mạng Nhật bùng nổ, chính quyền cách mạng của nhân dân Nhật được thành lập.

+ Nhật bị mất nước như Pháp năm 1940. Quân đội viễn chinh Nhật hoang mang, mất hết tinh thần.

Chỉ thị còn nói rõ không được ỷ lại vào bên ngoài khi tình thế biến chuyển thuận lợi, mà phải dựa vào sức mình là chính.

Ý nghĩa lịch sử

Chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" thể hiện sự nhận định sáng suốt, kiên quyết và kịp thời của Đảng ta, là kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, của Việt Minh trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, thúc đẩy tình thế cách mạng mau chóng chín muồi.

Khi Nhật đầu hàng, mặc dầu chưa nhận lệnh của Trung ương Đảng, nhưng do nắm vững nội dung bản Chỉ thị nên nhiều địa phương đã chủ động, sáng tạo, mau lẹ, kịp thời khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa thành công trong những ngày tháng Tám.

Lời giải

Đảng quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc vào tháng 12-1946 Thành quả nổi bật của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 là thiết lập được Chính quyền cách mạng.

Từ tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, Đảng ta đã đề ra các chủ trương về các mặt chính trị, kinh tế, tăng cường đoàn kết toàn dân, giữ vững chính quyền. Để giữ vững hoà bình, Đảng ta đã đề ra sách lược hoà hoãn với Tưởng rồi hoà hoãn với Pháp bằng việc ký Hiệp  định  sơ  bộ  6-3-1946,  đàm  phán  tại  Hội  nghị Phôngtennơblô và ký Tạm ước 14-9-1946.

Nhưng thực dân Pháp đã bội ước. Chiến sự ở miền Nam vẫn nổ ra gay gắt. Còn ở miền Bắc, chúng gây nhiều vụ khiêu khích trắng trợn, cụ thể là:

Ngày 20-1-1946, quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn.

Từ ngày 7 đến 15-12-1946, Pháp đánh chiếm Tiên Yên, Đình Lập, Hải Dương, Đà Nẵng.

Ngày 18-12-1946, Pháp gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, Hà Nội, đánh chiếm trụ sở Bộ Tài chính, Bộ Giao thông công chính. Chúng còn gửi tối hậu thư cho Chính phủ ta đòi tước vũ khí của tự vệ, đòi kiểm soát tình hình Hà Nội.

Trước hành động ngày càng lấn tới của địch, ta không thể nhân nhượng với chúng được nữa, vì nhân nhượng nữa là mất nước, quay lại cuộc đời nô lệ. Vì vậy, tối ngày 19-12-1946, Đảng và Chính phủ đã phát động toàn quốc kháng chiến.

Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến chống Pháp Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến". Ngày 22-12-1946, Trung ương Đảng ra "Chỉ thị toàn dân kháng chiến". Hai văn kiện này đã nêu một cách khái quát nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến. Nội dung ấy được đồng khí Trường Chinh bổ sung, phát triển trong tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi" năm 1947.

Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến thể hiện qua các văn kiện trên là:

Cuộc kháng chiến nhằm vào kẻ thù chính là bọn thực dân phản động Pháp đang dùng vũ lực cướp lại nước ta, giành độc lập tự do và thống nhất thật sự, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là tiếp tục sự nghiệp của cuộc Cách mạng Tháng Tám, nên nó có tính chất dân tộc giải phóng. Lúc này, nhiệm vụ giải phóng dân tộc là yêu cầu nóng bỏng và cấp bách nhất.

Cuộc kháng chiến chống Pháp còn mang tính chất dân chủ mới. Trong quá trình kháng chiến, phải từng bước thực hiện cải cách dân chủ và thực chất của vấn đề dân chủ lúc này là từng bước thực hiện người cày có ruộng.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.

Cuộc kháng chiến của ta là cuộc chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc; đánh giặc bằng bất cứ thứ vũ khí gì có trong tay; đánh giặc ở bất cứ nơi nào chúng tới.

Kháng chiến toàn dân là xuất phát từ so sánh lực lượng giữa ta và địch và xuất phát từ chân lý: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.

Kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế và văn hoá... nhằm tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù.

Kháng chiến lâu dài, tích cực phát triển lực lượng, tranh thủ giành thắng lợi ngày càng lớn. Kháng chiến lâu dài còn do tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch. Ta cần có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá so sánh lực lượng có lợi cho ta.

Dựa vào sức mình là chính, trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng sự viện trợ quốc tế.

Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa kháng chiến vừa xây dựng chế độ dân chủ mới trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để có sức mạnh đưa kháng chiến đến thắng lợi và tạo tiền đề cần thiết cho xây dựng xã hội mới sau khi giải phóng đất nước.

Đường lối kháng chiến của Đảng là ngọn cờ hướng đạo quân và dân ta chiến đấu và chiến thắng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ dẫn đến chiến công Điện Biên Phủ (1954).

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP