khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

03/09/2026 124 Lưu

Trình bày những hiểu biết của bản thân về xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam? Mỗi sinh viên tự rút ra ý nghĩa thực tiễn gì trong trong việc bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Quốc gia: Là thực thể pháp lí bao gồm ba yếu tố cấu thành: Lãnh thổ, Dân cư và Quyền lực công cộng. Quốc gia là chủ thể căn bản nhất của luật pháp quốc tế. Chủ quyền quốc gia là đặc trưng cơ bản, quan trọng nhất của quốc gia. Theo luật pháp quốc tế hiện đại,tất cả các quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền.

+Lãnh thổ quốc gia: Là phạm vi không gian được giới hạn bởi biên giới quốc gia,thuộc chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ của một quốc gia. Việt Nam là một quốc gia độc lập cóchủ quyền. Lãnh thổ quốc gia Việt Nam là một chỉnh thể thống nhất, bất khả xâm phạm.Lãnh thổ quốc gia Việt Nam bao gồm: Vùng đất quốc gia (kể cả các đảo và quần đảo); Vùngbiển quốc gia; Vùng trời quốc gia; Lãnh thổ quốc gia đặc biệt.

+Vùng đất quốc gia: Là phần mặt đất và lòng đất của đất liền (lục địa), của đảo, quần đảo thuộc chủ quyền một quốc gia; bộ phận quan trọng nhất cấu thành nên lãnh thổ quốc gia,làm cơ sở để xác định vùng trời quốc gia, vùng biển quốc gia. Việt Nam là một quốc gia venbiển nằm trên bán đảo Đông Dương, ven biển Thái Bình Dương, có vùng đất quốc gia vừa làđất liền, vừa là đảo, vừa là quần đảo, (diện tích đất liền khoảng 331.689 km2, từ đỉnh Lũng Cú đến mũi Cà Mau; hơn 3.000 đảo lớn, nhỏ ... 12 huyện đảo, trong đó có 2 huyện đảo (quầnđảo) xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.)

Vùng biển quốc gia: Việt Nam có ba mặt trông ra biển (Đông, Nam và Tây Nam), vớibờ biển dài 3.260 km, từ Móng Cái đến Hà Tiên. Phần Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam mở rộng về phía Đông và Đông Nam. Diện tích biển của Việt Nam khoảng 1 triệu km2

+ Vùng biển quốc gia (thuộc lãnh thổ Việt Nam) gồm có Nội thủy và Lãnh hải:Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở, bao gồm Các vùng nước phía trong đường cơ sở và Vùng nước cảng. Nội thủy có chế độ pháp lí như đất liền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ).Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía ngoài. Lãnh hải của ViệtNam bao gồm lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam. Lãnh hải có chế độ pháp lí như đấtliền (có chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ). Tuy nhiên, theo quy định của luật pháp quốc tế,trong lãnh hải Việt Nam, tàu thuyền các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại và đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của Việt Nam.

+ Vùng biển quốc gia :(thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam) gồm có Vùng tiếp giáp lãnh hải, Vùng đặc quyền về kinh tế và Thềm lục địa:

+ Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải (đường biên giới quốc gia trên biển).

+ Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp vớilãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.+ Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hảiViệt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo củaViệt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Thềm lục địa của Việt Nam có chiều rộng từ 200 đến không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở.

+Vùng trời quốc gia: Là khoảng không gian phía trên lãnh thổ quốc gia, thuộc chủ quyền hoàn toàn của Việt Nam.

+Lãnh thổ quốc gia đặc biệt: Là loại lãnh thổ đặc thù của một quốc gia tồn tại hợp pháp trong lãnh thổ một quốc gia khác hoặc trên vùng biển, vùng trời quốc tế. Lãnh thổ quốc gia đặc biệt của Việt Nam như trụ sở làm việc và nơi ở của các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài

+Chủ quyền quốc gia: Là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọimặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia. Tất cả các nước, không tính đến quymô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội, đều có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia là đặctrưng chính trị và pháp lí thiết yếu của một quốc gia độc lập, được thể hiện trong hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước và trong hệ thống pháp luật quốc gia. Tôn trọng chủ quyền quốcgia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc khẳng địnhnguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia; không một quốc gia nào được can thiệp hoặc khống chế, xâm phạm chủ quyền của một quốc gia khác.

Chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là một bộ phận của chủ quyền quốc gia, khẳng địnhquyền làm chủ của quốc gia trên vùng lãnh thổ của mình. Mỗi nước có toàn quyền định đoạtmọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ và can thiệp vào công việcnội bộ của các quốc gia khác. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia dừng lại ở biên giới quốc gia;mọi tư tưởng và hành động thể hiện chủ quyền quốc gia vượt quá biên giới quốc gia củamình đều là hành động xâm phạm chủ quyền của các quốc gia khác và trái với công ước quốc tế. Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyềnlãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.Xây dựng chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là thực hiện tổng thể các giải pháp, biệnpháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và QP,AN nhằm thiết lậpvà bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hànhpháp và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ, bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng biển và lãnh thổ đặc biệt của quốc gia.Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia: Là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biệnpháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyềnnhà nước đối với lãnh thổ quốc gia.Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là yêu cầu tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia trong tình hình hiện nay cần thực hiện tốt 4 nội dung sau:

Một là Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước.

Hai là Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình.

Ba là Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thuỷ, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; Đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam.

Bốn là Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp,hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi hành động chia cắt lãnh thổ Việt Nam; mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cả trong và ngoàinước hòng phá hoại quyền lực tối cao của Việt Nam.

Các nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau và đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới mà Đảng ta đã xác định. Làm tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Là Sinh viên chúng ta cần làm các điều sau để bảo vệ tổ quốc VN XHCN Cụ thể:

-Phát hiện và mạnh dạn đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng đến an ninh trật tự của địa phương. Nhằm phát huy được những mặt tích cực, hạn chế những tồn tại nhược điểm của sinh viên, đóng góp tích cực cho công tác bảo vệ an ninh trật tự của địa phương, mỗi cá nhân phải học tập, rèn luyện tốt, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người sinh viên, kính trọng thầy, cô giáo, tôn trọng các cơ quan chính quyền, tích cực tham gia các phong trào của địa phương

-Bảo vệ an ninh trật tự của cách vùng biên giới nơi cư trú, chống hành vi xâm phạm chủ quyền biên giới

-Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.

-Tự giác, tích cực luyện tập các kĩ năng quân sự, an ninh và chủ động tham gia các hoạt động về quốc phòng-an ninh do nhà trường, xã, phường, địa phương tổ chức.

Sinh viên phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, hiểu biết sâu sắc về truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, truyền thống đấu tranh cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam ; từ đó xây dựng, củng cố lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý chí tự chủ, tự lập, tự cường, nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng, cao quý và bất khả xâm phạm về chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ; xác định rõ vinh dự và trách nhiệm của công dân trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thực hiện tốt chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh đối với sinh viên các trường đại học, cao đẳng ; hoàn thành tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong thời gian học tập tại trường. Sau khi tốt nghiệp, sẵn sàng tự nguyện, tự giác tham gia quân đội nhân dân, công an nhân dân khi Nhà nước yêu cầu. Tình nguyện tham gia xây dựng và phục vụ lâu dài tại các khu kinh tế – quốc phòng, góp phần xây dựng khu vực biên giới, hải đảo vững mạnh, phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, thực hiện nghiêm chỉnh Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sinh viên đang học tại các trường đại học, cao đẳng cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia đối với sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ ; quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia. Trên cơ sở đó, nâng cao ý thức, trách nhiệm công dân, học tập tốt, thực hiện tốt các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

– Tham gia đăng kí tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Đang tải chế độ Học...

Hot: 1000+ đề thi giữa kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay

ĐẶC QUYỀN VIP

Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn

Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.

  • Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
  • Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
  • Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
  • Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
  • Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
  • Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
  • Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
  • Đăng ký ngay

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

+Khái niệm: Kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và Nhân dân trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động KT - XH,QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

+Mục đích của sự kết hợp: Là tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa.Thực chất của sự kết hợp:Là gắn kết giữa kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong một chỉnh thểthống nhất.

+Tính chất của sự kết hợp: Là hoạt động chủ quan của Đảng, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt đúng quy luật khách quan.Quan điểm của Đảng ta :Để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận và thực tiễn.

+Về cơ sở lý luận: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường , củng cố quốc phòng an ninh. Kinh tế và quốc phòng an ninh là những lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là cơ sở vật chất, suy đến cùng quyết định quốc phòng an ninh; ngược lại quốc phòng an ninh có sự tác động tích cực trở lại kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển: Cụ thể:

- KT là cơ sở vật chất, suy cho cùng quyết định QP, AN. Cụ thể:

+ KT quyết định nguồn gốc ra đời, sức mạnh của QP, AN. Lợi ích KT suy đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột XH. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động QP, AN.

+ Bản chất của chế độ KT quyết định đến bản chất nền QP, AN. Xây dựng QP, AN để tự vệ,giữ nước, chính nghĩa là do bản chất của chế độ XHCN quy định. Tăng cường sức mạnh QPAN vì mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản để thực hiện răn đe, can thiệp hay chiến tranh xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế TBCN quyết định.

+ KT quyết định việc cung cấp CSVC-KT, nhân lực cho hoạt động QP, AN.

+ KT quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho QP, AN, qua đó KT quyết định đến tổ chức biên chế của LLVT, quyết định đến đường lối chiến lược QP, ANĐể xây dựng QPAN vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.

- QP - AN tác động trở lại với KT - XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Cụ thể:

Mặt tích cực:

+ QP,AN vững mạnh để duy trì và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, lâu dài đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, XH.

+ Hoạt động QP, AN tro ng thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kinh tế, xã hộiphát triển.

+ Quá trình tiêu dùng cho QP, AN, đặt ra cho nền KT phải sản xuất ra sản phẩm hoặc thông qua mở rộng kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu của nó.Đây là những mặt tích cực, thống nhất giữa KT và QP, AN.

Mặt tiêu cực:

+ Hoạt động QPAN tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xa hội.Ảnh hưởng đến tiêu dùng của XH, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền KT.

+ Hoạt động QP, AN ảnh hưởng đến đường lối phát triển KT, cơ cấu kinh tế.

+ Hoạt động QP, AN còn có thể dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặngnề cho KT, nhất là khi chiến tranh xảy ra.Đây là những mặt tiêu cực, mâu thuẫn giữa phát triển KT, XH với tăng cường củng cố QP, AN

Giữa phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN có mối quan hệ chặt chẽ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Kết hợp là để phát huy mặt thống nhất, hạn chếmặt mâu thuẫn, để tạo thành sức mạnh tổng hợp.Vì vậy, kết hợp phát triển KT – XH với tăng cường củng cố QP – AN là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, việc kết hợp phải được thựchiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa.

Về cơ sở thực tiễn:

-Trên thế giới, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dùc hế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố QP - AN, kể cả những nước chưa hề xảy ra chiến tranh và tăng cường QPAN thì rất tốn kém.

- Ở Việt Nam ta, sự kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộcta :

+ Các triều đại phong kiến:

Từ xa xưa, cha ông ta đã đề ra kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”. Thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bềngốc”, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để “yên dân” mà “vẹn đất”; thực hiện “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển KT, vừa tăng cường sức mạnh QP để bảo vệ Tổ quốc.Khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để “Phục binh sẵn, phá thế giặc dữ” từ xa.Phát triển nghề thủ công vừa sản xuất nông cụ vừa sản xuất ra vũ khí, phương tiện phục vụtoàn dân đánh giặc.Mở mang đường sá, làm thủy lợi để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng

+ Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển KT - XHvới tăng cường, củng cố QP - AN một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng :

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đề ra chủ trương "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm";vừa thực hiện phát triển KT ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp;"Xây dựng làng kháng chiến", địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất, với các khẩu hiệu như “Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây”

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, kết hợp phát triển KT với tăng cường , củng cố QP - AN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thứcthích hợp:Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ, Đại hội III của Đảng đề ra chủ trương “Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”Miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương.Đây là sự linh hoạt, sáng tạo bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho thời kỳ sau.

Thời kì cả nước độc lập, thống nhất và đi lên CNXH, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trongđường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng CNXH, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảovệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng QP - AN, coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặtchẽ”.Việc kết hợp phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN đã và đang có nhữngchuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, thu được nhiều kết quả quan trọng,phát huy được tiềm năng và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN trong thời kỳ mới.Tóm lại, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP – AN ở Việt Nam hiện nay, là một tất yếu khách quan, có cơ sở lý luận và thực tiễn.

Rút ra ý nghĩa của sự kết hợp:

Từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN,chúng ta rút ra ý nghĩa thực tiễn thực hiện sự kết hợp, trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn đó là:

+ Phát triển KT-XH là trọng tâm nhưng không phải bằng mọi giá mà phải luôn nêu cao tinhthần cảnh giác cách mạng, luôn tính đến và không làm ảnh hưởng đến QPAN.

+ Ngược lại không phải quá lo giữ QP-AN mà không dám mở cửa, bỏ lỡ cơ hội phát triển KT-XH trong xu thế hội nhập.

+ Phát triển KT-XH là để có điều kiện tăng cường củng cố, đầu tư cho QP-AN

+ Củng cố QP-AN là để tạo điều kiện môi trường hòa bình ổn định cho phát triển KT-XH,đồng thời bảo vệ thành quả phát triển KT- XH.

Liên hệ: Bản thân sinh viên cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sinh Viên cần phải nỗ lực học tập và rèn luyện tốt để cống hiến sức lực và tri thức cho đất nước. Nêu cao tinh thần cảnh giác với các thế lực thù địch, không để những cám dỗ về vật chất tác động đến bản thân, làm suy giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước.

Giữ vững ổn định về tư tưởng chính trị, không để các thế lực thù địch có cơ hội dụ dỗ, lôi kéo. Đấu tranh phòng ngừa, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của cá thế lực chống phá.

Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị, kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa, với lý tưởng của Đảng, với niềm tin của nhân dân. Thường xuyên nâng cao hiểu biết, nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Đóng góp hết khả năng của mình vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời đại mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một công dân, chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật của Đảng, Nhà nước.

Vận động nhân dân và người thân chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia vào các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, làm suy thoái tư tưởng chính trị. Phát hiện, tố cáo các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, làm nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

Tăng cường đoàn kết trong nhân dân, truyên truyền, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh và thế trận an ninh nhan dân vững chắc.

Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, kiên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tư tưởng, lối sống.

Xây dựng ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc, phát triển kinh tế địa phương đi đối với giữ gìn văn hóa dân tộc và các giá trị truyền thống tốt đẹp.

Lời giải

Khái niệm: LLVTND là các tổ chức vũ trang và bán vũ trang của Nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quản lý.

Nhiệm vụ:

  • Chiến đấu giành và giữ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

  • Bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và những thành quả cách mạng.

  • Cùng toàn dân xây dựng đất nước.

  • Là lực lượng xung kích trong khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền, là lực lượng nòng cốt của quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chiến tranh nhân dân.

Thành phần:

LLVTND bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân Tự vệ.

Những quan điểm, nguyên tắc cơ bản xây dựng LLVTND trong thời kỳ mới (4 quan điểm, nguyên tắc):

- Một là: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lực lượng vũ trang nhân dân.

Ý nghĩa: Đây là quan điểm, nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng LLVTND. Sự lãnh đạo của Đảng quyết định bản chất cách mạng, mục tiêu, phương hướng chiến đấu, đường lối tổ chức và cơ chế hoạt động của LLVTND, bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội và công an trong mọi tình huống.

Nội dung: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo LLVTND theo nguyên tắc “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”: Đảng CSVN là chủ thể duy nhất, độc tôn lãnh đạo LLVTND. Đảng không chia sẻ quyền lãnh đạo đó cho bất kỳ giai cấp, tổ chức, đảng phái hay cá nhân nào khác. Sự lãnh đạo của Đảng đối với LLVTND là trực tiếp, không thông qua một khâu trung gian, một tổ chức trung gian nào. Đảng lãnh đạo mọi tổ chức, mọi lực lượng, mọi đơn vị trong LLVT; trên tất cả các lĩnh vực hoạt động; trên tất cả các mặt công tác; trong tất cả các nhiệm vụ.

- Hai là: Tự lực, tự cường xây dựng lực lượng vũ trang.

Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ truyền thống, kinh nghiệm trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta qua mấy ngàn năm lịch sử; xuất phát từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng LLVT và xuất phát từ thực tiễn xây dựng LLVTND Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.

Nội dung:

  • Tự lực, tự cường dựa vào sức mình để xây dựng, để giữ vững tính độc lập, tự chủ, chủ động, không bị chi phối, ràng buộc.

  • Nâng cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục mọi khó khăn, xây dựng đơn vị LLVTND vững mạnh toàn diện.

  • Triệt để tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi về khoa học - công nghệ để xây dựng và phát triển LLVTND.

  • Tập trung từng bước hiện đại hóa trang bị kỹ thuật, quản lý, khai thác, bảo quản có hiệu quả vũ khí, trang bị hiện có...

  • Tích cực đẩy mạnh phát triển kinh tế và thực hành tiết kiệm.

- Ba là: Xây dựng LLVTND lấy chất lượng là chính, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở.

Cơ sở: Quan điểm, nguyên tắc này xuất phát từ lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng. Xuất phát từ truyền thống xây dựng LLVT của ông cha ta “binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa”. Từ đòi hỏi, yêu cầu cao của nhiệm vụ đối với LLVTND trong thời kỳ mới. Từ thực tiễn xây dựng LLVTND, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng chất lượng, lấy chất lượng chính trị làm cơ sở... Do đó, LLVTND của ta luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đồng thời, xuất phát từ sự chống phá của kẻ thù trong chiến lược “DBHB”, BLLĐ nhằm phi chính trị hóa LLVTND, trước hết là quân đội, công an.

Nội dung:

  • Nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng:

Nâng cao chất lượng là chính, đồng thời có số lượng phù hợp với tình hình nhiệm vụ và khả năng kinh tế của đất nước;

Phải có cơ cấu hợp lý giữa các thứ quân, giữa lực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên;

Thường xuyên làm tốt công tác huấn luyện, diễn tập để nâng cao trình độ SSCĐ của LLVTND.

  • Xây dựng LLVTND có chất lượng toàn diện cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức:

Phải thường xuyên làm tốt công tác quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVTND tin tưởng vào đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước. Tin tưởng tuyệt đối, tự giác chấp hành nghiêm mọi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật;

Chăm lo xây dựng, củng cố các tổ chức chính trị trong LLVTND vững mạnh (tổ chức đảng, các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân...);

Chăm lo xây dựng cơ quan chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ chính trị, đảng viên có phẩm chất, năng lực tốt, đủ sức lãnh đạo đơn vị.

- Bốn là: Bảo đảm LLVTND luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.

Ý nghĩa: Đây là quan điểm phản ánh chức năng, nhiệm vụ chủ yếu, cơ bản, thường xuyên của LLVTND, có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho LLVTND chủ động đối phó kịp thời và thắng lợi trong mọi tình huống có thể xảy ra.

Nội dung:

LLVTND phải luôn trong tư thế SSCĐ, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Xây dựng LLVTND vững mạnh về mọi mặt, duy trì và chấp hành nghiêm các chế độ, quy định về sẵn sàng chiến đấu, trực ban, trực chiến, trực chỉ huy...

Liên hệ

Mỗi chúng ta để làm tốt điều này thì phải coi đây là một nghĩa vụ thiêng liêng, cao quý của mỗi công dân. Từ đó, chúng ta sẽ ý thức được trách nhiệm của thanh niên, học sinh hiện nay là:

Tích cực học tập, rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ sức khỏe.

Trung thành với Tổ quốc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, cảnh giác trước âm mưu chia rẽ, xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Tích cực tham gia các hoạt động an ninh, quốc phòng ở địa phương; tham gia hoạt động đền ơn đáp nghĩa…

Tham gia đăng ký, tham gia huấn luyện nghĩa vụ quân sự khi đến tuổi; sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc.

Vận động bạn bè, người thân thực hiện tốt nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Mỗi con người sinh ra đều mang trong mình một sứ mệnh riêng, nhưng hơn tất cả, sứ mệnh chung của chúng ta, đặc biệt là giới trẻ, thì trách nhiệm đối với đất nước là một sứ mệnh vô cùng quan trọng. Vậy trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là gì? Trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước là trách nhiệm giữ gìn nền độc lập, tích cực xây dựng nước nhà ngày càng vững mạnh.

Mỗi chúng ta khi sinh ra được sống trong nền hòa bình đã là một sự may mắn, chính vì vậy chúng ta cần phải cống hiến nhiều hơn để phát triển nước nhà vững mạnh, có thể chống lại mọi kẻ thù. Mỗi người khi học tập, lao động, tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp cũng chính là cống hiến cho Tổ quốc. Bên cạnh đó, mỗi chúng ta cần phải yêu thương, giúp đỡ đồng bào, đoàn kết với mọi người vì điều đó không chỉ giúp cho chúng ta được yêu thương, trân trọng mà còn thể hiện sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP