Nêu những dấu hiệu cơ bản về vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường? Liên hệ trách nhiệm của mỗi sinh viên trong bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp ở nhà trường và địa phương.
Câu hỏi trong đề: 56 câu bài tập Đường lối quân sự của Đảng (có đáp án) !!
Quảng cáo
Trả lời:
Khái niệm
-Môi trường bao gồm các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, sự tồn tại, phát triển của con người, sinh vật và tự nhiên
-Vi phạm pháp luật về môi trường là một loại vi phạm pháp luật nói chung. Hiện nay có nhiều quan điểm, góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học khi nghiên cứu vi phạm pháp luật về môi trường. Tuy nhiên, dưới góc độ tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường được tiếp cận bao gồm cả tội phạm về môi trường và vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Theo đó:
-Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, xâm phạm đến các thành phần của môi trường làm thay đổi trạng thái, tính chất của môi trường gây ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại, phát triển con người và sinh vật, mà theo quy định phải bị xử lý hình sự
-Như vậy, tội phạm về môi trường trước hết phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác động tiêu cực và gây tổn hại ở mức độ đáng kể đến các yếu tố của môi trường, tài nguyên gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, đến sự sống của động vật, thực vật sống trong môi trường đó.
-Tiếp theo, tội phạm về môi trường phải xâm hại đến các quan hệ được luật hình sự bảo vệ. Đó là sự trong sạch, tính tự nhiên của các thành phần môi trường, sự cân bằng sinh thái, tính đa dạng sinh học,
… tạo nên điều kiện sống, tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Ngoài ra, để phân biệt tội phạm về môi trường với các loại tội phạm khác cần dựa vào yếu tố môi trường. Sự khác biệt đó thể hiện, tội phạm về môi trường tác động đến các thành phần của môi trường dẫn đến làm thay đổi trạng thái, tính chất của môi trường hoặc xâm phạm đến quyền con người được sống trong môi trường trong lành.
Dấu hiệu vi phạm pháp luật về môi trường
- Dấu hiệu pháp lý của tội phạm về môi trường Tội phạm về môi trường được quy định tại Chương 19 - Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) bao gồm 12 tội danh được quy định từ Điều 235 đến điều 246. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm về môi trường được thể hiện dưới 4 yếu tố cấu thành tội phạm sau đây:
+ Khách thể của tội phạm Khách thể của các tội phạm về môi trường là sự xâm phạm vào các quy định của Nhà nước trong việc bảo vệ môi trường, xâm phạm vào sự trong sạch, tính tự nhiên của môi trường thiên nhiên vượt quá mức giới hạn cho phép, xâm phạm vào sự ổn định của môi trường sống gây ảnh hưởng hoặc làm tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người và các loài sinh vật. Đối tượng tác động của các tội phạm về môi trường chủ yếu là các thành phần môi trường như đất, nước, không khí, hệ sinh thái, đa dạng sinh học, khu bảo tồn thiên nhiên, các loài động vật, thực vật sống trong môi trường tự nhiên. Ngoài ra trong một số tội danh, đối tượng tác động của tội phạm về môi trường còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản như ‘‘Điều 237, Điều 238 BLHS hiện hành”1
+ Mặt khách quan của tội phạm Mặt khách quan của các tội phạm về môi trường được thể hiện bởi những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hầu hết các tội phạm về môi trường có cấu thành tội phạm (CTTP) vật chất. Mặt khách quan của tội phạm về môi trường được thể hiện dưới các nhóm hành vi cụ thể sau: *Nhóm các hành vi gây ô nhiễm môi trường (quy định tại các điều 235, 236, 237, 239 - Bộ luật Hình sự hiện hành): *Nhóm các hành vi hủy hoại tài nguyên, môi trường (quy định tại các điều 238, 242, 243, 244, 245, 246 - Bộ luật hình sự hiện hành), bao gồm các hành vi: Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai, vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238), Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242 Tội hủy hoại rừng (Điều 243 Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244 * Nhóm các hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm (quy định tại các điều 240, 241- Bộ luật Hình sự hiện hành): +
+Chủ thể của tội phạm: Về cá nhân, đa số các tội phạm về môi trường được thực hiện bởi chủ thể là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo qui định của Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó cũng có tội phạm được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn. Về pháp nhân thương mại phải đảm bảo các quy định: được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan, có cơ cấu tổ chức theo quy định của Bộ luật Dân sự, có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập, có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
+ Mặt chủ quan của tội phạm: Các tội phạm về môi trường được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý. Hầu hết tội phạm về môi trường thực hiện hành vi phạm tội dưới hình thức lỗi cố ý. Có nghĩa là chủ thể thực hiện tội phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và sẽ gây ra hậu quả nhất định cho xã hội, nhưng vẫn thực hiện hành vi. Động cơ, mục đích phạm tội đa dạng, nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội phạm về môi trường. - Dấu hiệu của vi phạm hành chính về môi trường + Về chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Bao gồm các cá nhân hoặc tổ chức có đủ điều kiện về chủ thể. Đối với cá nhân, người vi phạm phải có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật. Đối với tổ chức vi phạm phải có tư cách pháp nhân, nghĩa là các tổ chức này được thành lập hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản độc lập đó, đồng thời được nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập. + Về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Hành vi vi phạm các quy định về cam kết bảo vệ môi trường, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường. Hành vi gây ô nhiễm môi trường; hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải. Hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học. Hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên. Hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường. Hành vi vi phạm về đa dạng sinh học bao gồm: Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên. Hành vi vi phạm các quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền. Hành vi cản trở hoạt động quản lý nhà nước, kiểm tra, phối hợp thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính. Liên hệ trách nhiệm của mỗi sinh viên trong bảo vệ, giữ gìn môi trường xanh sạch đẹp ở nhà trường và địa phương.
-Nhận thức :
Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp. Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí. Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục, ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi trường nên bắt đầu bằng việc tuyên truyền để nâng cao ý thức tự giác của nhân dân là một vấn đề cốt lỗi.
-Trách nhiệm:
+Nắm vững các quy định của pháp luật phòng, chống vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
+ Xây dựng ý thức trách nhiệm trong các hoạt động bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên (nước, năng lượng,…).
+ Tham ra tích cực trong các phong trào về bảo vệ môi trường.
+Xây dựng văn hóa ứng xử, ý thức trách nhiệm với môi trường như sống thân thiện với môi trường xung quanh; tích cực trồng cây xanh; hạn chế sử dụng các phương tiện giao thông cá nhân để bảo vệ môi trường không khí; tham gia thu gom rác thải tại nơi sinh sống và học tập
Hot: Giáo án năng lực số, PPT AI khởi động lớp 1-12 (Update 2026) (chỉ từ 150k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
+Khái niệm: Kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN ở nước ta là hoạt động tích cực, chủ động của Nhà nước và Nhân dân trong việc gắn kết chặt chẽ hoạt động KT - XH,QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất trên phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương,thúc đẩy nhau cùng phát triển, góp phần tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
+Mục đích của sự kết hợp: Là tạo ra sức mạnh tổng hợp để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủnghĩa.Thực chất của sự kết hợp:Là gắn kết giữa kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong một chỉnh thểthống nhất.
+Tính chất của sự kết hợp: Là hoạt động chủ quan của Đảng, Nhà nước trên cơ sở nắm bắt đúng quy luật khách quan.Quan điểm của Đảng ta :Để thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, chúng ta phải kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN trong một chỉnh thể thống nhất. Quan điểm trên là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, có cơ sở lí luận và thực tiễn.
+Về cơ sở lý luận: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế xã hội với tăng cường , củng cố quốc phòng an ninh. Kinh tế và quốc phòng an ninh là những lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là cơ sở vật chất, suy đến cùng quyết định quốc phòng an ninh; ngược lại quốc phòng an ninh có sự tác động tích cực trở lại kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển: Cụ thể:
- KT là cơ sở vật chất, suy cho cùng quyết định QP, AN. Cụ thể:
+ KT quyết định nguồn gốc ra đời, sức mạnh của QP, AN. Lợi ích KT suy đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột XH. Để giải quyết mâu thuẫn đó, phải có hoạt động QP, AN.
+ Bản chất của chế độ KT quyết định đến bản chất nền QP, AN. Xây dựng QP, AN để tự vệ,giữ nước, chính nghĩa là do bản chất của chế độ XHCN quy định. Tăng cường sức mạnh QPAN vì mục đích bảo vệ lợi ích cho giai cấp tư sản để thực hiện răn đe, can thiệp hay chiến tranh xâm lược là do bản chất của chế độ kinh tế TBCN quyết định.
+ KT quyết định việc cung cấp CSVC-KT, nhân lực cho hoạt động QP, AN.
+ KT quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho QP, AN, qua đó KT quyết định đến tổ chức biên chế của LLVT, quyết định đến đường lối chiến lược QP, ANĐể xây dựng QPAN vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế.
- QP - AN tác động trở lại với KT - XH trên cả góc độ tích cực và tiêu cực. Cụ thể:
Mặt tích cực:
+ QP,AN vững mạnh để duy trì và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định, lâu dài đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, XH.
+ Hoạt động QP, AN tro ng thời bình, ở mức độ nhất định cũng có tác dụng kinh tế, xã hộiphát triển.
+ Quá trình tiêu dùng cho QP, AN, đặt ra cho nền KT phải sản xuất ra sản phẩm hoặc thông qua mở rộng kinh tế đối ngoại để đáp ứng nhu cầu của nó.Đây là những mặt tích cực, thống nhất giữa KT và QP, AN.
Mặt tiêu cực:
+ Hoạt động QPAN tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xa hội.Ảnh hưởng đến tiêu dùng của XH, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền KT.
+ Hoạt động QP, AN ảnh hưởng đến đường lối phát triển KT, cơ cấu kinh tế.
+ Hoạt động QP, AN còn có thể dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặngnề cho KT, nhất là khi chiến tranh xảy ra.Đây là những mặt tiêu cực, mâu thuẫn giữa phát triển KT, XH với tăng cường củng cố QP, AN
Giữa phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN có mối quan hệ chặt chẽ vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Kết hợp là để phát huy mặt thống nhất, hạn chếmặt mâu thuẫn, để tạo thành sức mạnh tổng hợp.Vì vậy, kết hợp phát triển KT – XH với tăng cường củng cố QP – AN là một tất yếu khách quan. Tuy nhiên, mỗi lĩnh vực có quy luật phát triển đặc thù, việc kết hợp phải được thựchiện một cách khoa học, hợp lý, cân đối và hài hòa.
Về cơ sở thực tiễn:
-Trên thế giới, dù là nước lớn hay nước nhỏ, kinh tế phát triển hay chưa phát triển, dùc hế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường, củng cố QP - AN, kể cả những nước chưa hề xảy ra chiến tranh và tăng cường QPAN thì rất tốn kém.
- Ở Việt Nam ta, sự kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là quy luật tồn tại, phát triển của dân tộcta :
+ Các triều đại phong kiến:
Từ xa xưa, cha ông ta đã đề ra kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”. Thực hiện “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bềngốc”, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để “yên dân” mà “vẹn đất”; thực hiện “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển KT, vừa tăng cường sức mạnh QP để bảo vệ Tổ quốc.Khai hoang lập ấp ở những nơi xung yếu để “Phục binh sẵn, phá thế giặc dữ” từ xa.Phát triển nghề thủ công vừa sản xuất nông cụ vừa sản xuất ra vũ khí, phương tiện phục vụtoàn dân đánh giặc.Mở mang đường sá, làm thủy lợi để vừa phát triển kinh tế, vừa tạo thế trận đánh giặc, cơ động lực lượng
+ Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết kế thừa kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển KT - XHvới tăng cường, củng cố QP - AN một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng :
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đảng đề ra chủ trương "Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc", "Vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm";vừa thực hiện phát triển KT ở địa phương vừa tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp;"Xây dựng làng kháng chiến", địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất, với các khẩu hiệu như “Tăng gia sản xuất cũng là đánh Tây”
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, kết hợp phát triển KT với tăng cường , củng cố QP - AN đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thứcthích hợp:Miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN làm hậu phương lớn cho miền Nam đánh Mỹ, Đại hội III của Đảng đề ra chủ trương “Trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”Miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng ta chỉ đạo kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương.Đây là sự linh hoạt, sáng tạo bảo đảm cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi trong 2 cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là bài học kinh nghiệm vô cùng quý giá cho thời kỳ sau.
Thời kì cả nước độc lập, thống nhất và đi lên CNXH, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường, củng cố QP - AN được Đảng ta khẳng định là một nội dung quan trọng trongđường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN và được triển khai trên quy mô rộng lớn, toàn diện hơn. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII khẳng định: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng CNXH, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảovệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng QP - AN, coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặtchẽ”.Việc kết hợp phát triển KT- XH với tăng cường củng cố QP – AN đã và đang có nhữngchuyển biến cả trong nhận thức và tổ chức thực hiện, thu được nhiều kết quả quan trọng,phát huy được tiềm năng và sức mạnh tổng hợp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcXHCN trong thời kỳ mới.Tóm lại, kết hợp phát triển KT - XH với tăng cường củng cố QP – AN ở Việt Nam hiện nay, là một tất yếu khách quan, có cơ sở lý luận và thực tiễn.
Rút ra ý nghĩa của sự kết hợp:
Từ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển KT-XH với tăng cường củng cố QP-AN,chúng ta rút ra ý nghĩa thực tiễn thực hiện sự kết hợp, trong thời kỳ đẩy mạnh Công Nghiệp Hóa, Hiện Đại Hóa đất nước và chủ động hội nhập quốc tế sâu, rộng hơn đó là:
+ Phát triển KT-XH là trọng tâm nhưng không phải bằng mọi giá mà phải luôn nêu cao tinhthần cảnh giác cách mạng, luôn tính đến và không làm ảnh hưởng đến QPAN.
+ Ngược lại không phải quá lo giữ QP-AN mà không dám mở cửa, bỏ lỡ cơ hội phát triển KT-XH trong xu thế hội nhập.
+ Phát triển KT-XH là để có điều kiện tăng cường củng cố, đầu tư cho QP-AN
+ Củng cố QP-AN là để tạo điều kiện môi trường hòa bình ổn định cho phát triển KT-XH,đồng thời bảo vệ thành quả phát triển KT- XH.
Liên hệ: Bản thân sinh viên cần nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công tác quốc phòng an ninh trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sinh Viên cần phải nỗ lực học tập và rèn luyện tốt để cống hiến sức lực và tri thức cho đất nước. Nêu cao tinh thần cảnh giác với các thế lực thù địch, không để những cám dỗ về vật chất tác động đến bản thân, làm suy giảm lòng tin vào Đảng, Nhà nước.
Giữ vững ổn định về tư tưởng chính trị, không để các thế lực thù địch có cơ hội dụ dỗ, lôi kéo. Đấu tranh phòng ngừa, phát hiện những âm mưu, thủ đoạn của cá thế lực chống phá.
Thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị, kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa, với lý tưởng của Đảng, với niềm tin của nhân dân. Thường xuyên nâng cao hiểu biết, nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Đóng góp hết khả năng của mình vào công cuộc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước trong thời đại mới, hoàn thành tốt nhiệm vụ của một công dân, chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật của Đảng, Nhà nước.
Vận động nhân dân và người thân chấp hành các quy định của pháp luật, không tham gia vào các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu lợi dụng lôi kéo, làm suy thoái tư tưởng chính trị. Phát hiện, tố cáo các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật, làm nguy hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
Tăng cường đoàn kết trong nhân dân, truyên truyền, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ gắn bó giữa các dân tộc, tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh và thế trận an ninh nhan dân vững chắc.
Cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, kiên định về tư tưởng, lập trường, ngăn chặn quá trình tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tư tưởng, lối sống.
Xây dựng ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc, phát triển kinh tế địa phương đi đối với giữ gìn văn hóa dân tộc và các giá trị truyền thống tốt đẹp.
Lời giải
Những giải pháp phòng, chống chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Mục tiêu
Mục tiêu của chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch tiến hành ở Việt Nam là làm chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta theo con đường TBCN. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải làm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là:
+ Giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước, tạo môi trường hòa bình để đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.
+Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Nhiệm vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định phải kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ.
- Đây là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay đồng thời còn là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta.
- Chủ động phát hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với nước ta, kịp thời tiến công ngay từ đầu. Xử lí nhanh chóng, hiệu quả khi có bạo loạn xảy ra và luôn bảo vệ tốt chính trị nội bộ.
Quan điểm chỉ đạo
- Đấu tranh chống “DBHB” là một cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc hết sức gay go, quyết liệt lâu dài và phức tạp trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực chất chiến lược “DBHB” mà các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta là một bộ phận quan trọng trong chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Mục tiêu của chiến lược đó là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, làm sụp đổ chế độ XHCN ở Việt Nam và chuyển hóa theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản
- Chống chiến lược “DBHB” là cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh hiện nay để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xuất phát từ các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt mà các thế lực thù địch sử dụng trong chiến lược “DBHB” với nhiều đòn tấn công “mềm” trên tất cả các lĩnh vực để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, Đảng ta đã xác định rõ nội dung bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay là toàn diện, coi trọng giữ vững an ninh, kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng.
Phương châm tiến hành + Kết hợp chặt chẽ giữa giữ vững bên trong với chủ động ngăn chặn phòng ngừa và chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Từ đó phải nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động tiến công làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “DBHB” của kẻ thù nhằm chống phá cách mạng nước ta.
+ Chủ động, kiên quyết khôn khéo xử trí linh hoạt các tình huống và giải quyết hậu quả kịp thời khi có bạo loạn xảy ra, giải quyết các vụ gây rối, không để phát triển thành bạo loạn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bao giờ cũng chủ động chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, từng bước làm suy yếu từ bên trong và khi có thời cơ tiến hành lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế chứng minh, chủ động tiến công sẽ tạo thuận lợi giành thắng lợi trong chiến tranh nói chung và trong phòng chống chiến lược “DBHB”, bạo loạn lật đổ của kẻ thù đối với nước ta nói riêng.
- Xây dựng tiềm lực mọi mặt vững mạnh của đất nước, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân trong nước và quốc tế, kịp thời làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù đối với Việt Nam. , phải thường xuyên coi trọng xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa- xã hội, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về mọi mặt. Chú trọng tuyên truyền giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân lao động hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn cơ bản trong chiến lược “DBHB” mà kẻ thù sử dụng để chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Những giải pháp phòng, chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam hiện nay
Đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hưởng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế
Muốn ngăn chặn, đấu tranh đạt hiệu quả, làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù thì phải giữ vững sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Tệ quan liêu, tham nhũng được kẻ thù lợi dụng để khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, kích động nhân dân lao động đứng lên biểu tình chống lại chính quyền địa phương, chống Đảng và Nhà nước ta, gây mất ổn định xã hội. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong xã hội, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực, chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để giữ vững và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn ổn định.
Nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ
Chủ động nắm địch, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Do vậy phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân Việt Nam, mọi tổ chức chính trị - xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá cách mạng Việt Nam. Cần phải đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác cách mạng trong một bộ phận nhân dân, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thám hiểm trong chiến lược "Diễn biến hoà bình" của kẻ thù chống phá nước ta hiện nay.
Xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc cho toàn dân
Đối với nước ta, bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch lợi dụng sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa, ở Liên Xô và Đông Âu, Vì vậy, khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố nền quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và các thành quả cách mạng. Giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện, nhưng tập trung vào : Giáo dục tỉnh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thủ chống phá đất nước ta ; quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới : tinh thần sản sàng xả thân vì Tổ quốc, quyết tử để Tổ quốc quyết sinh... hình thức giáo đục phải đa dạng, phù hợp với từng đối tượng
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh về mọi mặt
Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững mạnh sẽ bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Do vậy, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh ; theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng, mọi miền đất nước ; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng, Nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang ở địa phương vững mạnh
Xây dựng lực lương dân quân tự vệ, dự bị động viên phải rộng khắp ở tất cả các lãnh, báo, phường, xã, thị trấn, các cơ quan, tổ chức và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phải chủ trong giải quyết đúng được mối quan hệ giữa số lượng và chất lương nhưng lấy chất lượng là chính. Ở địa phương, phải chủ độngtrong kết hợp phát động phong trào quân thung báo và an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở, Quân chúng là nên tăng, là gốc rẻ của dân tộc, là đồng lúc chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Vì vậy, quân chúng cũng là đối tượng để kẻ thù lợi dung, mua chuộc nhằm thất bại âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hòa bình" , bạo loạn lật đổ nhằm chống phá nước ta
Xây dựng, luyện tập các phương án, các tình huống chống "Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của địch Mỗi thủ đoạn, hình thức, biện pháp mà kẻ thù sử dụng trong chiến lược"Diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, cần có phương thức xử lí cụ thể,hiệu quả. Khi mỗi tình huống bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, xử trí theo nguyên tắc nhanh gọn – kiên quyết – linh hoạt – đúng đối tượng - không để lan rộng, kéo dài. Từ đó, xây dựng đầy đủ luyện tập các phương án sát với diễn biến từng địa phương, từng đơn vị, từng cấp, từng ngành. Hoạt động xử lí bạo loạn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, các ngành, quân đội và công an làm tham mưu.
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động
Đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hưởng xã hội chủ nghĩa thực chất là để tạo ra cơ sở vật chất, phát triển lực lượng sản xuất và từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đồng thời, là điều kiện để tăng năng suất lao động của xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân lao động, để tạo nên sức mạnh của theo trận lòng dân".
Những giải pháp trên đây có quan hè chặt chẽ với nhau, tạo thành một chính thể thống nhất nhằm đấu tranh ngăn ngừa âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược "Diễn biến hoà hình", bạo loạn lật đổ của kẻ thù sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay. Vì vậy trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ này không nên coi nhẹ hoặc tuyệt đối hoà một giải pháp nào.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.