Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 71 đến 75:
Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả bô lão trong làng lập đàn cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương, ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang màu trắng, bông phất phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỏ cây vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Đứng dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một màu đen của cây cháy. Đột ngột, kinh hoàng quá, không ai còn khóc được.
Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái. Mí hớn hở ăn, rồi say, nôn ra máu. Nó ốm, tóc rụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc mọi người chưa dậy, chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần màu đen của tro than. Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.
Chú tôi đến chơi, bảo là “để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ”. Chú thím cố mãi cũng chỉ toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị dâu mang bát đi rửa chú mới nói: “Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy, khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn”. “Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ. Đi từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối đi…”. “Chị không biết rồi…”. “Biết cái gì?”. “Người già mà ngủ say được thế sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá! Đứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín, mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu”.
[...] Ngày trước, chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất, chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...
Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi: “Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó”. “Mẹ thì nghĩ thế nào?”. “Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu”.
(Đỗ Bích Thúy, Sau những mùa trăng, In trong Giải nhất truyện ngắn,
NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.170-172)
Nhân vật phụ nữ trong đoạn trích hiện lên với đặc điểm tính cách nào?
Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi từ 71 đến 75:
Nắng từ ngày này sang ngày khác, già bản tụ tập tất cả bô lão trong làng lập đàn cầu khấn mà trời vẫn không cho một giọt mưa. Trên nương, ngô vừa ra bắp bằng chuôi dao đã khô quắt lại, lúa ngả sang màu trắng, bông phất phơ như lau. Rừng già lách tách tiếng vỏ cây vỡ nứt. Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi. Đứng dưới bản nhìn lên chỉ còn thấy một màu đen của cây cháy. Đột ngột, kinh hoàng quá, không ai còn khóc được.
Nương sắn chưa đầy năm cũng nằm trong vùng cháy. Chị dâu mang dao, mang gùi đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn đã chín, củ nào cũng chỉ như ngón chân cái. Mí hớn hở ăn, rồi say, nôn ra máu. Nó ốm, tóc rụng trơ cả da đầu, nằm ẹp như một con mèo con, chỉ còn thấy hai hốc mắt. Mẹ cũng kiệt sức, ngồi bó gối bên giường Mí mấy đêm liền, đến lúc chị dâu đỡ mẹ nằm xuống, đôi chân co như đang ngồi. Ban đêm, lúc mọi người ngủ, chị dâu đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua. Sáng sớm, lúc mọi người chưa dậy, chị đã mang ống bương qua hai quả núi đi lấy nước... Những ngày tháng ấy nếu không có chị dâu không biết điều gì sẽ xảy ra. Còn tôi, khi về được bản, nương lúa mới trỉa đã bắt đầu lên xanh, phủ dần màu đen của tro than. Như một sự trả nợ, vụ ấy trời cho được mùa, lúa ngô mang về không còn chỗ để.
Chú tôi đến chơi, bảo là “để xem bao giờ thằng Lìn mới chịu lấy vợ”. Chú thím cố mãi cũng chỉ toàn con gái. Tưởng có mỗi chuyện ấy thôi nhưng đến lúc ăn cơm xong, đợi chị dâu mang bát đi rửa chú mới nói: “Chị à, con dâu ngày càng đẹp ra đấy, khéo mà giữ kẻo mang tiếng họ Bàn”. “Chú nói gì? Nó đi đâu mà phải giữ. Đi từ nhà lên nương, từ nương về nhà, mặt chỉ biết cúi xuống nhìn lối đi…”. “Chị không biết rồi…”. “Biết cái gì?”. “Người già mà ngủ say được thế sao chị dâu? Ngủ say quá nên không nghe đêm trăng nào cũng có đứa đến gần nhà thổi khèn lá! Đứa ấy gọi ai? Gọi cái Mí chín, mười tuổi à? Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu”.
[...] Ngày trước, chú là người phản đối việc anh trai tôi đòi cưới chị. Chú chê chị bé, chê con gái mà ngực lép, lông mày rậm là không biết làm dâu, là có lúc cãi bố mẹ chồng. Sau này, khi anh tôi rồi cha tôi mất, chính chú lại là người thương chị dâu nhất, chuyện gì cũng nói như với con gái. Thế mà bây giờ...
Chú Phin về rồi, mẹ bảo tôi: “Mày mới về, nghe chú nói, biết thế, đừng nghĩ xấu cho nó”. “Mẹ thì nghĩ thế nào?”. “Tao làm dâu họ Bàn, nó cũng là dâu họ Bàn, chết đi làm ma họ Bàn. Muốn gì cũng không được đâu”.
(Đỗ Bích Thúy, Sau những mùa trăng, In trong Giải nhất truyện ngắn,
NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.170-172)
Quảng cáo
Trả lời:
Đoạn trích trong truyện “Sau những mùa trăng” của Đỗ Bích Thúy khắc họa hình ảnh người chị dâu với nhiều chi tiết:
+ Vất vả chăm lo cho gia đình trong lúc thiên tai, đói kém: “đi từ sáng sớm đến trưa mới về, gùi một gùi sắn…”
+ Thức đêm tìm thức ăn cho cả nhà: “ban đêm… đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua”.
+ Lặng lẽ chịu đựng lời nghi ngờ, điều tiếng mà không phản kháng.
→ Những chi tiết này cho thấy người phụ nữ: Âm thầm chịu đựng, hi sinh vì gia đình, tận tụy, nhẫn nhịn.
→ Vì vậy, đặc điểm nổi bật nhất là cam chịu và giàu đức hi sinh. Chọn D.
Câu hỏi cùng đoạn
Câu 2:
Xác định biện pháp tu từ trong câu nói của nhân vật người chú: “Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu”.
Xác định biện pháp tu từ trong câu nói của nhân vật người chú: “Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu”.
- Câu nói của người chú: “Con gái có chồng, cái bụng mà không nghĩ lung tung thì má không như hoa đào thế đâu.”. Người chú không nói trực tiếp rằng chị dâu có tình cảm hay quan hệ mờ ám với người khác. Thay vào đó, ông nói bóng gió, ám chỉ qua hình ảnh “má như hoa đào” (ý nói má hồng, có biểu hiện của tình yêu hay cảm xúc riêng).
→ Đây là cách nói mỉa, nói bóng gió để nghi ngờ, ám chỉ hành vi của người khác.
- Loại các phương án:
A. Nói quá: phóng đại → không phải.
C. Nói giảm nói tránh: làm nhẹ đi ý nghĩa → không đúng.
D. Nghịch ngữ: dùng từ trái nghĩa → không có trong câu.
→ Chọn B.
Câu 3:
Câu văn “Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi.” sử dụng biện pháp tu từ gì?
Câu văn “Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng, đến sáng thứ tư thì thôi.” sử dụng biện pháp tu từ gì?
Trong câu văn “Rồi cháy, cháy khủng khiếp, cháy ba ngày ba đêm, thiêu trụi mấy cánh rừng…”, từ “cháy” được lặp lại nhiều lần.
→ Đây là biện pháp điệp ngữ, có tác dụng:
+ Nhấn mạnh mức độ khủng khiếp của đám cháy rừng.
+ Tạo nhịp điệu dồn dập, căng thẳng, làm nổi bật sự tàn phá dữ dội của thiên tai.
→ Chọn C.
Câu 4:
Đoạn trích phản ánh hiện thực xã hội nào trong nền văn học dân tộc?
Đoạn trích phản ánh hiện thực xã hội nào trong nền văn học dân tộc?
- Đoạn trích trong truyện “Sau những mùa trăng” của Đỗ Bích Thúy phản ánh rõ hiện thực cuộc sống khắc nghiệt của người dân miền núi:
+ Thiên tai hạn hán, cháy rừng: “ngô… khô quắt lại”, “lúa ngả sang màu trắng”, “cháy ba ngày ba đêm”.
+ Đói nghèo, thiếu thốn lương thực: gùi sắn nhỏ “chỉ như ngón chân cái”.
+ Cuộc sống vật lộn để sinh tồn: “đốt đuốc ra suối lật từng viên đá lên tìm cua”.
→ Những chi tiết này cho thấy sự khổ cực và đói nghèo của người dân miền núi, đồng thời làm nổi bật sự hi sinh của người phụ nữ trong gia đình.
- Loại các phương án:
B: văn bản không nói đến chênh lệch giàu nghèo.
C: xung đột gia đình không phải nội dung chính.
D: không nhấn mạnh sự thay đổi nhận thức.
→ Chọn A.
Câu 5:
Đoạn trích sử dụng cách thức kết cấu nào để xây dựng hình ảnh nhân vật và tình huống?
- Đoạn trích trong truyện “Sau những mùa trăng” của Đỗ Bích Thúy được xây dựng bằng:
+ Hồi tưởng quá khứ: người kể nhớ lại những năm tháng hạn hán, cháy rừng, đói khát và sự hi sinh của chị dâu.
+ Các đoạn đối thoại giữa: chú Phin và mẹ, mẹ và người kể chuyện.
→ Những cuộc đối thoại này dần hé lộ mâu thuẫn, lời đồn đoán và hoàn cảnh của nhân vật chị dâu, làm rõ tình huống truyện.
- Loại các phương án:
A: không hoàn toàn tuyến tính vì có yếu tố hồi tưởng.
C: không xây dựng bằng ẩn dụ bí ẩn.
D: miêu tả không gian – thời gian chỉ là yếu tố phụ.
→ Chọn B.
Hot: Giáo án năng lực số, PPT AI khởi động lớp 1-12 (Update 2026) (chỉ từ 150k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Trong đoạn trích người kể xưng “tôi” là ngôi thứ nhất nên loại phương án B, D.
Xác định các từ khóa: “dùng mõm ủi một chiếc ghế con”, “nhảy chồm chồm”, “táp được chiếc quần”, “không giống kiểu cún”, “rên ư ử”,… cho thấy đây không phải một em bé nên loại phương án A. Chọn C.
Lời giải
Thể thơ của đoạn trích là tự do. Chọn D.
Câu 3
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 4
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 5
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Đăng ký để học cùng Vietjack. Hoàn toàn miễn phí!
Bằng việc đăng ký, bạn đồng ý với Điều khoản sử dụng và Chính sách bảo mật của Vietjack.