khoahoc.vietjack.com
Xin chào! Vào học

Câu hỏi:

03/11/2026 46 Lưu

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

(Tóm tắt: Sang tháng chín rồi mà vẫn có bão to. Bão tàn phá ruộng vườn, nhà cửa khiến bao người mất trắng. Ai nấy cũng đều xót xa.)

Nhưng trận bão ít nhất cũng làm cho một người sung sướng. Ấy là Thai cao kều. Không phải Thai là một kẻ dở hơi. Nhưng hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của.

Vốn xưa kia Thai cũng có vườn. Có ba sào. Chẳng phải của ông cha để lại cho. Ông cha hắn cũng nghèo. Lúc sống cơ nghiệp có bao nhiêu thì lúc chết lại quây gói vào mà mang đi hết. […] Ba sào vườn của hắn, nguyên do là của ông lý Biên cho hắn. Hồi ấy hắn làm đầy tớ nhà ông lý. Chính vào hồi kinh tế. Thóc có hào tám, hai hào một thúng. Làm ruộng không đủ tiền trâu bò với tiền nộp thuế. Người ta lũ lượt kéo nhau đi mộ phu, đi lên rừng. Vườn, ruộng ế. Những mảnh tốt còn có người muốn giữ. Những mảnh xấu, chẳng có ai còn thiết. Người ta bỏ thuế. Lý trưởng sợ không có gì mà nộp đậy lại được, mang gán cho bà con thân thuộc, người một mảnh, người vài mảnh. Còn lại mảnh ba sào đất bãi, không ai chịu nhận, ông bèn cho Thai. Cho thì lấy vậy. Dẫu chẳng được lợi lộc gì thì cũng không phải thiệt. Đủ nộp thuế là phần nhất. Không đủ thì cứ ì ra đấy. Hắn là đầy tớ của ông lý, không lẽ ông giết hắn? Ngày ấy hắn chưa vợ, chưa con gì.

            Mấy năm sau, ông lý Biên từ lý trưởng. Người khác lên thay. Thai không thể ăn vườn mà không nộp thuế. Hắn đã toan bỏ phắt, nhưng không bỏ được. Bởi bây giờ hắn đã trót đa mang vào cái cảnh vợ con. Vợ hắn bảo rằng: Cái vườn cũng như một cái xương để gặm dần. Thị nhất định cứ giữ khư khư lấy cái xương ấy, không chịu nhả. Sự co quắp của đàn bà thật là khó chịu nhưng nhiều khi có lý. Bởi vì cái thời mọi cái rẻ như bèo dần dần phải qua đi. Thóc gạo trở lại giá bình thường, rồi quá giá bình thường. Một thùng sắt tây đã có kì lên đồng tám. Gấp mười lần khi trước. Những người ăn đong méo mặt. Ngày nắng còn có thể đong được gạo, ngày mưa, nhiều khi có tiền mà cũng đành phải nhịn. Cầm rá ra hàng gạo, đố ai thấy đầu hàng gạo đâu; người đi đông chen chúc. Hàng gạo vừa bán vừa mắng xa xả, người mua cũng phải lăn lưng vào. Ờ! Bây giờ thì vườn, ruộng sao mà quý thế! Ba sào vườn của Thai bỗng nhiên có giá. Nó đã không còn là xương nữa. Nó là miếng nạc. Biết bao nhiêu anh thèm! Hồi đầu năm, có người trả trăm hai. Rồi có người trả trăm ba. Rồi có người trả trăm tư. Hồi tháng năm vừa rồi, thấy hắn phải chạy tiền nộp thuế, có anh cay mua quá, trả luôn trăm sáu. Đã ghê chưa? Chưa bao giờ hắn tưởng hắn có cả một cơ nghiệp to đến thế. Ngót hai trăm đồng bạc!

            Vợ hắn vênh mặt lên mà bảo: Đấy chả đòi bán mãi đi! Giá bán rồi thì bây giờ nhìn người ta ăn mà xít xoa.

            Hắn cười: Người ta đùa đấy chứ ai chịu bán? Có ba sào vườn bán đi thì ở đâu?

Úi chào!

– Thật chứ!... Bây giờ cứ trả hai trăm bạc, tôi có bán thì cứ phỉ vào mặt tôi.

Có người biết thế. Người ấy dòm ngó cái vườn của Thai lâu lắm. Y biết rằng Thai túng, nghĩa là cái mồi còn có thể giằng ra được. Miễn là phải khéo. Y chờ từng cơ hội. Mà cơ hội thì này đây: Một hôm y thấy Thai đến sòng sóc đĩa. Dấu hiệu này rất tốt. Bởi đến sòng sóc đĩa thì phải đánh. Đánh thì thua hoặc được. Được thì đánh nữa cho đến bao giờ hoá thua. Kết cục thì bao giờ cũng thua.

Y chờ lúc đó. Lúc đó đã đến, như lời y đoán. Y cho Thai vay vài chục. Rồi y lại cho Thai vài chục nữa, rồi vài chục nữa. Sau cùng thì y gạ Thai cố vườn. Cố thôi, chứ y không có tiền mua đâu. Không muốn cố thì xoay tiền mà trả y. Y không cho vay thêm nữa. Vay nhiều rồi. Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu? Xoay đâu cũng phải lãi mười phân. Thôi thì cố mẹ nó cái vườn cho xong! Thai nghĩ thế, bởi vì hắn đã thua cay lắm. Cần phải gỡ. Dẫu phải bán thân hắn đi để mà gỡ, hắn cũng không ngần ngại. Ấy thế là cái vườn mất. Bởi vì cái vườn bán có đắt khét mới được hai trăm thì người lấy cố lấy luôn cho hắn những trăm hai. Trăm hai, trăm hai, viết là hai trăm cho cẩn thận, do cái lẽ trong văn tự chỉ có thể nói: Lãi y như quốc lệ. Y như quốc lệ nghĩa là đồng bạc, tháng có một xu. Tiền để có mục ra, cũng không cho vay nhẹ lãi như thế. Vậy thì viết tăng lên hai trăm cũng được, nhưng đến lúc chuộc thì cứ số trăm hai tính lãi mười phân mà trả. Người có tiền bỏ ra, bao giờ cũng muốn nắm đằng chuôi như vậy. Được! Được! Muốn thế nào thì thế! Thai cần tiền…

(Trích Làm tổ, Tuyển tập truyện ngắn của Nam Cao)

 Chú thích:

–  Nam Cao tên thật Trần Hữu Tri (1915 – 1951), quê ở làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông là nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam thế kỷ 20, nổi bật trước Cách mạng tháng Tám với các truyện ngắn khắc hoạ sâu sắc số phận người nông dân nghèo và người trí thức. Sau Cách mạng, ông tích cực tham gia hoạt động cách mạng, thường viết về những chuyển biến trong nhận thức và hành động của nhiều tầng lớp nhân dân tham gia kháng chiến. Nam Cao ghi dấu ấn sâu đậm với phong cách “nghệ thuật vị nhân sinh” và chủ nghĩa hiện thực sâu sắc.

Thực hiện các yêu cầu:

Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong đoạn trích.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

– Dấu hiệu:

+ Người kể không trực tiếp xuất hiện (người kể giấu mình) nhưng vẫn thấu hiểu và tái hiện tâm tư, suy nghĩ của nhân vật một cách sâu sắc.

+ Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba.

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Theo đoạn trích, điều gì khiến nhân vật Thai sung sướng khi bão về?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Theo đoạn trích, điều khiến Thai sung sướng khi bão về vì “hắn chỉ có hai bàn tay trắng, những thằng không có của không bao giờ mất của”.

Câu 3:

Phân tích hiệu quả của câu hỏi tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu?”

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

– Biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ “Xoay? Nhưng mà xoay ở đâu?”

– Hiệu quả của biện pháp tu từ:

+ Tạo nhịp điệu cho câu văn, tăng giá trị biểu cảm cho diễn đạt, làm lời văn trở nên hấp dẫn.

+ Nhấn mạnh, làm nổi bật sự bất lực, cùng quẫn, bế tắc của Thai trong hoàn cảnh nợ nần.

+ Thể hiện thái độ băn khoăn, trăn trở của nhà văn trước bi kịch của con người.

Câu 4:

Nguyên nhân nào khiến cho Thai mất đi mảnh vườn? Nguyên nhân đó cho ta hiểu gì về hiện thực xã hội đương thời?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

– Những nguyên nhân khiến Thai mất đi mảnh vườn của mình và rơi vào bi kịch bần cùng:

+ Nguyên nhân trực tiếp do Thai chơi cờ bạc thua phải vay tiền người ta, mà cuối cùng không có tiền trả.

+ Một nguyên nhân khác là do những kẻ cơ hội tìm cách đưa Thai vào tròng bằng những chiêu trò cho vay cố vườn. Đây chính là sự lưu manh của những kẻ có tiền trong xã hội đương thời.

– Hiện thực xã hội đương thời: Áp lực nặng nề của xã hội phong kiến đầy bất công, bóc lột, khiến người nông dân chất phác như Thai bất lực trước hoàn cảnh và bị tha hoá dần; chọn cách buông xuôi, chấp nhận số phận, dẫn đến mất đi tài sản, nhân phẩm và rơi vào bi kịch tột cùng. Đây là một trong những bi kịch bần cùng, tha hoá của người nông dân trước Cách mạng.

⇒ Mảnh vườn – nơi “làm tổ” và tạo ra kế sinh nhai bị tước đoạt, thể hiện sự tàn khốc của xã hội đương thời đối với người lao động.

Câu 5:

Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng và khác biệt nào về ý nghĩa?

– “Được! Được! Muốn thế nào thì thế. Thai cần tiền…”

(Làm tổ – Nam Cao)

– “Tao muốn làm người lương thiện! Ai cho tao lương thiện?”

(Chí Phèo – Nam Cao)

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

– Sự tương đồng:

+ Cả hai ngữ liệu đều cho thấy người nông dân vốn có phẩm chất lương thiện, nhưng bị hoàn cảnh xô đẩy, biến họ thành những kẻ tha hoá, rơi vào bi kịch bế tắc, tuyệt vọng, không lối thoát.

+ Tố cáo xã hội thực dân phong kiến tàn ác, đã đẩy người nông dân vào cảnh khốn cùng, bần cùng hoá và tha hoá nhân hình, nhân tính.

– Sự khác biệt: Hai ngữ liệu phản ánh hai khía cạnh khác nhau của bi kịch người nông dân trong văn Nam Cao:

+ Ngữ liệu 1: Thể hiện trạng thái buông xuôi, chấp nhận đánh đổi nhân phẩm để tồn tại (“Thai cần tiền”), đau đớn nhưng bất lực, cho thấy sự suy sụp hoàn toàn, chỉ còn là bản năng sinh tồn.

+ Ngữ liệu 2: Là tiếng kêu phẫn uất, phản kháng, đòi quyền được sống như một con người bình thường của Chí Phèo, là đỉnh điểm của bi kịch khi khát khao lương thiện nhưng bị cả xã hội từ chối. Cho thấy sự đối lập gay gắt giữa bản chất và số phận

Đang tải chế độ Học...

Hot: 1000+ đề thi giữa kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay

ĐẶC QUYỀN VIP

Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn

Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.

  • Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
  • Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
  • Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
  • Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
  • Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
  • Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
  • Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
  • Đăng ký ngay

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hoàn thiện bản thân từ những điều thiếu sót.

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận của bài viết:

HS triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận.

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.

* Thân bài:

– Giải thích:

+ “Ghét bỏ” là thái độ chán ghét, muốn xa lánh hoặc chối bỏ; “thiếu sót” là sự khiếm khuyết, chưa hoàn hảo; “biết ơn” chỉ thái độ trân trọng những gì ta nhận được. Câu nói của đại đức Hae Min khẳng định con người có thể học tập, sửa sai từ những gì thiếu sót để hoàn thiện bản thân mình hơn.

+ “Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót” là việc con người thay đổi mình trở nên tốt đẹp hơn từ những hạn chế, khiếm khuyết của bản thân.

– Bàn luận:

+ Con người trong cuộc sống không ai là hoàn hảo, ai cũng có lúc mắc sai lầm, khuyết điểm, thiếu sót.

+ Hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót mang nhiều ý nghĩa tích cực: Có ý thức chủ động nhìn nhận lại chính mình; không ảo tưởng về mình, tự đúc rút những bài học kinh nghiệm có giá trị để sửa sai và nỗ lực học hỏi để hoàn thiện, giúp con người hạnh phúc, được mọi người yêu quý...

+ Mỗi người cần nhận thức được tầm quan trọng của việc hoàn thiện bản thân từ những thiếu sót; nghiêm khắc và kỉ luật với chính mình, dám đối diện với thiếu sót của mình; nỗ lực học hỏi, trau dồi từng ngày để hoàn thiện bản thân.

(HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp)

– Mở rộng vấn đề, trao đổi về quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Phê phán những người thích bao biện, đổ lỗi, không tự chịu trách nhiệm; những người nhìn nhận những thiếu sót với tâm lí tiêu cực.

* Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận. Bài học cho bản thân.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:

– Triển khai ít nhất được hai luận điểm để làm rõ quan điểm của cá nhân.

– Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.

– Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng.

Lưu ý: HS có thể trình bày suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.

đ. Diễn đạt:

Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

e. Sáng tạo:

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Lời giải

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn

Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. HS có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Chủ đề của đoạn trích “Làm tổ” của nhà văn Nam Cao.

c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

* Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, đoạn trích.

* Phân tích chủ đề của đoạn trích “Làm tổ”:

– Chủ đề: Đoạn trích “Làm tổ” của Nam Cao xoay quanh bi kịch của người nông dân bần cùng hoá, bị cái đói, cái nghèo, cái khổ đẩy vào bước đường cùng và sự bế tắc tuyệt vọng.

+ Hình ảnh “Làm tổ” trở nên trớ trêu và đầy mỉa mai, thay vì tổ ấm hạnh phúc, nó lại gắn liền với sự tan vỡ của mảnh vườn – tài sản duy nhất của nhân vật Thai.

+ Đoạn trích khắc hoạ sâu sắc tâm trạng nhân vật Thai, người vui mừng khi bão sắp đến vì nghĩ đó là cơ hội thoát nợ, thể hiện sự tan vỡ của mọi giá trị, ước mơ làm “tổ ấm” trở thành ảo mộng trước sự tàn khốc của cuộc đời.

– Ý nghĩa: Giúp người đọc cảm nhận được bi kịch của người nông dân trước cách mạng, họ bị xã hội xô đẩy vào bước đường cùng, chọn cách buông xuôi, chấp nhận số phận cay đắng.

Qua đó, Nam Cao tố cáo hiện thực xã hội đương thời đã tước đoạt quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc cơ bản nhất của con người. Đồng thời, tác phẩm khơi gợi lòng trắc ẩn sâu sắc.

* Đánh giá khái quát: Nghệ thuật kể chuyện độc đáo, sử dụng ngôn ngữ bình dị, chân thực, kết hợp nhuần nhuyễn ngôn ngữ người kể chuyện và nhân vật, cùng khả năng phân tích tâm lí nhân vật sâu sắc thông qua những tình huống éo le, bộc lộ chiều sâu hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, thể hiện tài năng và chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc của tác giả.

d. Diễn đạt

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

e. Sáng tạo

Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP