Giải SBT Địa lí 12 KNTT Bài 9. Thực hành: Viết báo cáo về một chủ đề dân cư ở Việt Nam có đáp án
8 người thi tuần này 4.6 8 lượt thi 3 câu hỏi 45 phút
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 3
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 2
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 1
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 3
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 2
Bộ 3 đề thi cuối kì 2 Địa lý 12 cấu trúc mới có đáp án - Đề 1
Bộ 3 đề thi giữa kì 2 Địa lý 12 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 3
Bộ 3 đề thi giữa kì 2 Địa lý 12 Chân trời sáng tạo có đáp án - Đề 2
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Lời giải:
- Dân số Việt Nam năm 2021 ước tính khoảng 98,5 triệu người (bao gồm gần 49,1 triệu nam và 49,4 triệu nữ).
- Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 15 trên thế giới.
- Mức sinh chung cả nước năm 2021 đạt 2,1 con/ phụ nữ.
Lời giải
Lời giải:
|
Vùng |
Tỉ lệ lao động qua đào tạo (%) |
|
|
Năm 2011 |
Năm 2021 |
|
|
Trung du và miền núi Bắc Bộ |
13.6 |
17 |
|
Đồng bằng sông Hồng |
16.8 |
30 |
|
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung |
14.4 |
22.5 |
|
Tây Nguyên |
10.8 |
18 |
|
Đông Nam Bộ |
13 |
32 |
|
Đồng bằng sông Cửu Long |
8.6 |
18.5 |
|
Cả nước |
15.4 |
26.1 |
Lời giải
Lời giải:
(*) Tham khảo: Báo cáo về: Thực trạng sử dụng lao động và giải pháp nâng cao chất lượng lao động ở Việt Nam.
Hiện nay, lao động là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Trong những năm gần đây, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong việc sử dụng nguồn lao động, góp phần nâng cao năng suất và cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc sử dụng lao động vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần được khắc phục.
Trước hết, về thực trạng, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu dân số trẻ. Nhiều ngành nghề như công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp đã thu hút lượng lớn lao động, góp phần giảm tỉ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, chất lượng lao động chưa cao, phần lớn lao động vẫn làm việc trong các ngành có giá trị gia tăng thấp. Tình trạng lao động chưa qua đào tạo hoặc đào tạo chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp còn phổ biến. Ngoài ra, năng suất lao động của Việt Nam vẫn thấp so với nhiều nước trong khu vực. Một bộ phận lao động còn thiếu kỹ năng mềm như làm việc nhóm, ngoại ngữ, và tác phong công nghiệp.
Bên cạnh đó, sự phân bố lao động cũng chưa hợp lý. Lao động tập trung nhiều ở khu vực nông thôn và các ngành truyền thống, trong khi một số ngành nghề mới, đặc biệt là công nghệ cao, lại thiếu nhân lực chất lượng. Tình trạng di cư lao động tự do từ nông thôn ra thành thị cũng gây ra nhiều vấn đề xã hội như thiếu việc làm ổn định, điều kiện sống khó khăn.
Để nâng cao chất lượng lao động, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần đẩy mạnh giáo dục và đào tạo nghề, gắn đào tạo với nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Các trường học cần chú trọng trang bị kỹ năng thực hành, kỹ năng mềm và ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên. Đồng thời, cần khuyến khích học tập suốt đời để người lao động có thể thích ứng với sự thay đổi của nền kinh tế.
Ngoài ra, Nhà nước cần có chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả lao động chất lượng cao, đặc biệt trong các ngành công nghệ và dịch vụ hiện đại. Việc phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số cũng góp phần nâng cao năng suất lao động. Bên cạnh đó, cần cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo quyền lợi cho người lao động để họ yên tâm cống hiến lâu dài.
Tóm lại, việc sử dụng và nâng cao chất lượng lao động là nhiệm vụ quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam. Nếu thực hiện tốt các giải pháp trên, nước ta sẽ có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển.