...........................................................................................
II. NỘI DUNG ÔN TẬP
...........................................................................................
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Sông nước trong tiếng miền Nam
Nam Bộ là vùng đất sông nước, ruộng vườn. Sông rạch chằng chịt gắn bó bao đời với sinh hoạt, chi phối đời sống kinh tế cũng như đời sống tinh thần của con người. Bài viết này muốn nhấn mạnh tác động của thiên nhiên đến môi trường sống,… và ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn từ đặc trưng của mỗi vùng, miền.
Nam Bộ là miền đất nhiều sông lắm rạch. Số từ ngữ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến sông nước vì vậy vô cùng phong phú, là nguồn đóng góp của phương ngữ Nam Bộ vào ngôn ngữ toàn dân: rạch, xẻo, con lươn, bùng binh, tắt, rỏng, vàm, lung, láng, bưng, bàu, cù lao, cồn, giồng,…; nước lớn, nước ròng, nước rong, nước nổi, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương,…; ghe, tam bản, xuồng, vỏ lãi, tắc ráng,…
Những từ ngữ này không chỉ đi vào lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân vùng đất này, là yếu tố cấu tạo của nhiều địa danh mà còn phản ánh bối cảnh sáng tác của những câu hò, điệu hát dân gian và là mảnh đất tốt để nhà văn, nhà thơ khai thác. Ngoài những ý nghĩa chung phản ánh những sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên, nhiều từ ngữ sông nước còn được dùng theo nghĩa phái sinh để gọi tên những sự vật, hiện tượng khác theo cách mở rộng nghĩa. Năm 1985, Huỳnh Tịnh Paulus Của trong “Đại Nam Quốc âm tự vị” đã định nghĩa từ “bùng binh”: “khúc sông rộng phình tròn ra”.
Đến năm 1970, “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức ghi nghĩa từ “bùng binh” là “khu đất rộng nối các trục đường trong thành phố”: bùng binh Ngã Sáu, bùng binh Ngã Bảy,… Như vậy, một từ chỉ sông nước đã được dùng để gọi tên giao lộ của các con đường trong thành phố.
Nếu trong phương ngữ Bắc Bộ gọi loại ô tô lớn chở hành khách trên các tuyến đường dài, thường là các đường liên tỉnh là ô tô ca (hay xe ca, xe khách) thì phương ngữ Nam Bộ gọi là xe đò, theo nghĩa “đò” là “thuyền chở khách trên sông nước theo một tuyến nhất định”.
Trong “Từ điển tiếng Việt” (Viện Ngôn ngữ học), “quá giang” là “đi đò ngang qua sông”. Ngoài nghĩa đó, phương ngữ Nam Bộ còn có thêm cách dùng phổ biến “đi nhờ một phương tiện vận tải nào đó” (vẫy xe xin đi quá giang một đoạn). Khi thuyền chở đầy và nặng, không thể chở hơn được nữa, người ta nói là thuyền “khẳm”: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm…” (Nguyễn Đình Chiểu). Phương ngữ Nam Bộ còn mở rộng nghĩa của “khẳm” là “quá nhiều, quá sức chứa”. Ví dụ: tiền vô khẳm, lời khẳm, thêm một ly nữa là khẳm,… “Chìm xuồng” cũng thường được dùng ở nghĩa bóng là “cố ý bỏ qua, không đề cập tới nữa”: Vụ đó kể như xử “chìm xuồng” rồi.
Phần lớn làng xã ở Nam Bộ đều nằm hai bên bờ sông rạch. Từ đây dẫn đến một đặc điểm là đặt địa danh gắn liền với sông nước. Nhiều địa danh ở các tỉnh Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh mang tên nhóm từ sông nước này: Bàu Mây, Cồn Phụng, Cù Lao Dài, Giổng Trôm, Giòng Quéo, Láng Cò, Rạch Cá Trê, Rạch Cá Lóc, Rạch Bà Mụ,… (Bến Tre); Vàm Cỏ (Long An); Vàm Cống (An Giang); Tắt Thủ (Cà Mau); Bàu Nai, Bàu Cát, Giồng Ông Tố, Bưng Sáu Xã, Rạch Chiếc, Rạch Miễu, Láng Le, Láng Thé, Rỏng Tràm, Rỏng Bàng, Vàm Sác,… (Thành phố Hồ Chí Minh).

Sông nước là một phần, nếu không nói là phần quan trọng nhất
trong sinh hoạt của người miền Tây Nam Bộ. (Ảnh: Duy Khương)
Nếu so sánh địa danh ở các tỉnh Nam Bộ với địa danh ở các tỉnh Bắc và Trung Bộ, chúng ta dễ dàng nhận thấy tính bình bị, dân dã của địa danh Nam Bộ, trong đó, các địa danh có từ ngữ sông nước kết hợp với danh từ chỉ động vật, thực vật, tên người nổi tiếng trong vùng,… chiếm một tỉ lệ khá lớn. […]
(Theo TRẦN THỊ NGỌC LANG, báo Sài Gòn Tiếp Thị, 18-9-2012)
Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Cho biết thông tin chính được trình bày trong văn bản trên là gì?
Câu 2. Nêu bố cục và cách trình bày của văn bản.
Câu 3. Mục đích của người viết văn bản trên là gì? Câu văn, đoạn văn nào liên quan đến mục đích ấy?
...........................................................................................
II. VIẾT (4.0 điểm)
...........................................................................................