(Bài tập 1, SGK) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
[...] Khi nói đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thì trước hết cần thấy rằng đó là một công việc bình thường, tự nhiên và thường xuyên, lâu dài trong về sau, nhằm suốt cả quá trình phát triển của tiếng Việt từ trước tới nay và từ nay bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy ngôn ngữ nào cũng trải qua những thời kì nổi bật lên nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của nó. Như ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Lê-nin (Lenin) đã kêu gọi mọi người không được “làm hỏng tiếng Nga”, “tuyên chiến với việc dùng những từ nước ngoài không cần thiết”.
Ở ta, từ những năm 50, trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã nói đến các thứ “bệnh” ngôn ngữ mà chúng ta thường hay nhắc như: bệnh “sáo”, nghĩa là nói và viết theo một cái khuôn mẫu hoàn toàn như nhau bất kể về việc gì, ở cấp nào, cơ quan nào; bệnh “ba hoa”, “nói dài, nói dại, nói dai”, còn nội dung thì rỗng tuếch, “ba voi không được bát nước xáo”; bệnh “vẽ rắn thêm chân”; bệnh “nói chữ”. Sau này, Bác cũng nhiều lần nhấn mạnh: “khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều, và nhiều khi dùng không đúng”. Bác thường xuyên nhắc nhở: “tiếng nào sẵn có thì dùng tiếng ta” và đồng thời chỉ rõ: “có những chữ ta không sẵn có và khó dịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài”.
Năm 1966, tại cuộc họp mặt về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (ngày 7 và ngày 10 tháng 2), tôi đã nêu ra ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp của nó, và hơn thế nữa làm cho nó ngày càng thêm giàu và đẹp. Đó là: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kĩ thuật,...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
[...] Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi nó ngày càng có tính chất “trí tuệ hoa và quốc tế hoá”. Điều này rất quan trọng khi ta đặt tiếng Việt trong bối cảnh thời đại ngày nay: thời đại của thông tin, của trí tuệ; thời đại của hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu, và do đó, tiếng Việt phải có những chuẩn bị, những thay đổi, để có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà không sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
(Phạm Văn Đồng, Trở lại vấn đề: Vì sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 6, năm 1999)
a) Vì sao phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Nội dung nhiệm vụ đó là gì?
b) Thế nào là một ngôn ngữ phát triển? Vấn đề phát triển tiếng Việt có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay?
(Bài tập 1, SGK) Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
[...] Khi nói đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thì trước hết cần thấy rằng đó là một công việc bình thường, tự nhiên và thường xuyên, lâu dài trong về sau, nhằm suốt cả quá trình phát triển của tiếng Việt từ trước tới nay và từ nay bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy ngôn ngữ nào cũng trải qua những thời kì nổi bật lên nhiệm vụ giữ gìn sự trong sáng của nó. Như ở Nga, sau Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Lê-nin (Lenin) đã kêu gọi mọi người không được “làm hỏng tiếng Nga”, “tuyên chiến với việc dùng những từ nước ngoài không cần thiết”.
Ở ta, từ những năm 50, trong cuốn “Sửa đổi lối làm việc”, Bác Hồ đã nói đến các thứ “bệnh” ngôn ngữ mà chúng ta thường hay nhắc như: bệnh “sáo”, nghĩa là nói và viết theo một cái khuôn mẫu hoàn toàn như nhau bất kể về việc gì, ở cấp nào, cơ quan nào; bệnh “ba hoa”, “nói dài, nói dại, nói dai”, còn nội dung thì rỗng tuếch, “ba voi không được bát nước xáo”; bệnh “vẽ rắn thêm chân”; bệnh “nói chữ”. Sau này, Bác cũng nhiều lần nhấn mạnh: “khuyết điểm nặng nhất là dùng chữ nước ngoài quá nhiều, và nhiều khi dùng không đúng”. Bác thường xuyên nhắc nhở: “tiếng nào sẵn có thì dùng tiếng ta” và đồng thời chỉ rõ: “có những chữ ta không sẵn có và khó dịch đúng thì cần phải mượn chữ nước ngoài”.
Năm 1966, tại cuộc họp mặt về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt (ngày 7 và ngày 10 tháng 2), tôi đã nêu ra ba khâu cần phải làm để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, giữ gìn sự giàu đẹp của nó, và hơn thế nữa làm cho nó ngày càng thêm giàu và đẹp. Đó là: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kĩ thuật,...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
[...] Một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi nó ngày càng có tính chất “trí tuệ hoa và quốc tế hoá”. Điều này rất quan trọng khi ta đặt tiếng Việt trong bối cảnh thời đại ngày nay: thời đại của thông tin, của trí tuệ; thời đại của hội nhập khu vực, hội nhập toàn cầu, và do đó, tiếng Việt phải có những chuẩn bị, những thay đổi, để có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà không sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
(Phạm Văn Đồng, Trở lại vấn đề: Vì sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt,
Tạp chí Ngôn ngữ, số 6, năm 1999)
a) Vì sao phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt? Nội dung nhiệm vụ đó là gì?
b) Thế nào là một ngôn ngữ phát triển? Vấn đề phát triển tiếng Việt có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay?
Câu hỏi trong đề: Giải SBT Ngữ văn 12 CD Bài 8: Thơ hiện đại !!
Quảng cáo
Trả lời:
a) Giữ gìn tiếng Việt là để bảo vệ và phát huy cái bản sắc, cái tinh hoa của tiếng Việt, không để cho mất đi một cái gì vô cùng quý báu khiến cho tiếng Việt là tiếng Việt. Nói cách khác, giữ gìn tiếng Việt là bảo vệ sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc, cụ thể là sự chuẩn mực về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách.
Giữ gìn tiếng Việt, theo tác giả, gồm bốn nhiệm vụ quan trọng: giữ gìn và phát triển vốn chữ của tiếng ta; nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta; giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta trong mọi thể văn (văn học, chính trị, khoa học, kĩ thuật,...); đồng thời phải có những đổi mới, phát triển, làm cho tiếng ta ngày thêm giàu trên cơ sở vốn cũ của tiếng ta.
b) Một ngôn ngữ phát triển là ngôn ngữ ngày càng có tính chất “trí tuệ hoá và quốc tế hoá”. Vấn đề phát triển tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, vì việc phát triển tiếng Việt sẽ giúp tiếng Việt có đủ thế và lực giao lưu, tiếp xúc với các ngôn ngữ khác trên thế giới mà không sợ bị tổn thương đến giá trị, bản sắc, đến sự giàu đẹp của nó.
Hot: 1000+ Đề thi giữa kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong những dòng thơ là so sánh: “Tôi yêu đất nước này như thế / Như yêu cây cỏ ở trong vườn / Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương”.
– Tác dụng: giúp tác giả diễn đạt một cách cụ thể, sinh động tình yêu đối với đất nước. Đất nước là những điều thiêng liêng nhưng cũng rất đỗi gần gũi, thân thương. Đất nước là thiên nhiên xung quanh ngôi nhà, là mẹ. Đó là hình ảnh về một đất nước lam lũ, vất vả nhưng giàu sức sống và tình cảm yêu thương.
Lời giải
Yếu tố siêu thực được thể hiện qua:
- Những hình ảnh thơ mơ hồ, trừu tượng, khó hình dung, lí giải một cách tường minh. Chẳng hạn như:
giọt nước mắt vầng trăng
long lanh trong đáy giếng
hay:
đường chỉ tay đã đứt
dòng sông rộng vô cùng
Lor-ca boi sang ngang
trên chiếc ghi ta màu bạc
hoặc:
chàng ném trái tim mình
vào lặng yên bất chợt
- Những câu thơ không cần sử dụng dấu chấm câu, không tuân thủ trật tự ngữ pháp, các kết hợp từ theo hướng lạ hoá, mở ra những trường liên tưởng khác nhau, khó cắt nghĩa một cách tường minh, cụ thể: vầng trăng chếnh choáng, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, giọt nước mắt vầng trăng,...
- Những yếu tố trên đã góp phần thể hiện những cảm nhận, cảm xúc còn mơ hồ, khó định nghĩa, tường giải của Thanh Thảo về Lor-ca, về vẻ đẹp, cái chết của người thi sĩ này. Đối với Thanh Thảo, cũng như bất cứ ai, bên cạnh những tình cảm, cảm xúc rõ ràng, còn có những trạng thái tâm lí, tình cảm khó diễn tả một cách tường minh, nhất là trong những khoảnh khắc xuất thần, đột hứng của sáng tạo thi ca. Đó là những trạng thái có thật nhưng ở một thế giới tinh thần không dễ nắm bắt và diễn giải. Về nghệ thuật, yếu tố siêu thực đã đem lại những nét mới lạ cho văn bản thơ, tạo ra những lớp ngôn từ khác thường, mở ra những trường nghĩa vô cùng phong phú. Những yếu tố siêu thực này không chỉ giúp các nhà thờ mở rộng khả năng tái hiện và tái tạo thế giới – thế giới ở phần sâu thẳm, khó nắm bắt, mà còn giải phóng trí tưởng tượng, vượt thoát khỏi những ước lệ trói buộc cảm xúc, đưa thơ trở về với một trong những chức năng nguyên thuỷ của nó, đó là phương thức thể hiện một cách tự do đời sống tâm hồn, tình cảm của con người.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.