Câu hỏi:

06/11/2025 1,136 Lưu

Cho mẫu số liệu điểm môn Toán của một nhóm học sinh như sau:

Điểm

\(\left[ {6 ; 7} \right)\)

\(\left[ {7 ; 8} \right)\)

\(\left[ {8 ; 9} \right)\)

\(\left[ {9 ; 10} \right]\)

Số học sinh

\(8\)

\(7\)

\(10\)

\(5\)

Mốt của mẫu số liệu trên (kết quả làm tròn đến hàng phần trăm) là:

A. \(7,91\).                    
B. \(8,38\).    
C. \(8,37\).                 
D. \(7,95\).

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Nhóm chứa mốt là \(\left[ {8;9} \right)\).

Mốt của mẫu số liệu là \({M_o} = 8 + \frac{{10 - 7}}{{2 \cdot 10 - 7 - 5}}\left( {9 - 8} \right) = 8,375 \approx 8,38\). Chọn B.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Gọi \(A\) là biến cố bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ \(A\) thì \(\overline A \) là biến cố bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ \(B\). Ta có \(P\left( A \right) = P\left( {\overline A } \right) = 0,5.\)

Gọi \(X\) là biến cố bệnh nhân được chữa khỏi bệnh. Ta có \(P\left( {X|A} \right) = 0,6;\,\,P\left( {X|\overline A } \right) = 0,7.\)

Gọi \(Y\) là biến cố bệnh nhân bị tác dụng phụ nghiêm trọng. Ta có \(P\left( {Y|A} \right) = 0,05;\,\,P\left( {Y|\overline A } \right) = 0,1.\)

a) Sai. Xác suất bệnh nhân điều trị bằng phác đồ \(A\) và được chữa khỏi bệnh là:

\(P\left( {AX} \right) = P\left( A \right) \cdot P\left( {X|A} \right) = 0,5 \cdot 0,6 = 0,3.\)

b) Đúng. Xác suất để bệnh nhân bị tác dụng phụ nghiêm trọng là:

\(P\left( Y \right) = P\left( A \right) \cdot P\left( {Y|A} \right) + P\left( {\overline A } \right) \cdot P\left( {Y|\overline A } \right) = 0,5 \cdot 0,05 + 0,5 \cdot 0,1 = 0,075.\)

c) Đúng. Nếu biết bệnh nhân này gặp tác dụng phụ nghiêm trọng thì xác suất bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ \(B\) là:

\(P\left( {\overline A |Y} \right) = \frac{{P\left( {\overline A Y} \right)}}{{P\left( Y \right)}} = \frac{{P\left( {\overline A } \right) \cdot P\left( {Y|\overline A } \right)}}{{P\left( Y \right)}} = \frac{{0,5 \cdot 0,1}}{{0,075}} \approx 0,67 > 0,65.\)

d) Đúng. Ta có \(P\left( X \right) = P\left( A \right) \cdot P\left( {X|A} \right) + P\left( {\overline A } \right) \cdot P\left( {X|\overline A } \right) = 0,5 \cdot 0,6 + 0,5 \cdot 0,7 = 0,65.\)

Do biến cố “bệnh nhân được chữa khỏi bệnh” và biến cố “bệnh nhân không bị tác dụng phụ nghiêm trọng” là độc lập với nhau. Nên xác suất bệnh nhân khỏi bệnh và không bị tác dụng phụ nghiêm trọng là:

\[P\left( {X\overline Y } \right) = P\left( {X\overline Y |A} \right)P\left( A \right) + P\left( {X\overline Y |\overline A } \right)P\left( {\overline A } \right) = \left[ {0,6 \cdot \left( {1 - 5\% } \right)} \right]0,5 + \left[ {0,7 \cdot \left( {1 - 10\% } \right)} \right]0,5 = 0,6\].

Lời giải

Đồ thị trên chỉ có hai đỉnh bậc lẻ là C E nên ta có thể tìm được một đường đi Euler từ C đến E (đường đi này đi qua mỗi cạnh đúng một lần).

Một đường đi Euler từ C đến ECABDEBCE và tổng độ dài của nó là

\(2 + 1 + 3 + 6 + 5 + 4 + 10 = 31\,\,{\rm{(km)}}\).

Để quay trở lại điểm xuất phát và có đường đi ngắn nhất, ta cần tìm một đường đi ngắn nhất từ E đến C.

Đường đi ngắn nhất từ \(E\) đến \(C\)\(EBAC\) và có độ dài là \(5 + 1 + 2 = 8\,{\rm{(km)}}\).

Vậy tổng quãng đường đưa thư có thể đi ngắn nhất là \(31 + 8 = 39\,({\rm{km}})\).

Đáp án: 39.