khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

20/06/2026 12 Lưu

Đọc văn bản và trả lời câu hỏi

Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng phát triển ở Việt Nam

(1) Thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa đang ở mức báo động và trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong những giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này là thay thế các sản phẩm nhựa truyền thống bằng nhựa phân hủy sinh học (NPHSH) thân thiện môi trường. Bài viết đề cập một số nét cơ bản về thực trạng, tiềm năng và giải pháp phát triển loại vật liệu này trong thời gian tới ở nước ta.

(2) NPHSH là loại nhựa có thể bị phân hủy bởi các vi sinh vật, thường là vi khuẩn, tạo thành nước, carbon dioxide và sinh khối trong một khoảng thời gian xác định. Các sản phẩm sau phân hủy có thể tiếp tục tham gia vào chu trình carbon và không để lại bất kỳ hợp chất nào có thể gây hại cho môi trường. Nhìn chung, quá trình phân hủy sinh học polyme có thể được chia thành 4 giai đoạn: suy thoái sinh học, phân rã polyme, phân hủy sinh học và khoáng hóa.

(3) Một loại nhựa được coi là nhựa sinh học (NSH) nếu nó được sản xuất một phần hoặc toàn bộ bởi các polyme có nguồn gốc sinh học. Không phải tất cả các loại NSH đều có khả năng phân hủy sinh học. Chẳng hạn như nhựa bio-PE, bio-PP, bio-PET có nguồn gốc sinh học nhưng chúng có các tính chất tương đồng với nhựa cùng loại được sản xuất từ nguồn dầu mỏ, nghĩa là không có khả năng phân hủy sinh học.

(4)   NSH và NPHSH được phân loại thành các nhóm như sau: 1) Nhựa có nguồn gốc sinh học không phân hủy (Bio-based plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tái tạo (tinh bột ngô, khoai, sắn…), gồm các loại nhựa như PE (polyethylen), PET (polyetylen terephthalate), PA (polyamide) và gần đây là PP (polypropylen), PEF (polyethylene furanoate). 2) NSH phân hủy hoàn toàn (Bio-based và Biodegradable plastics): nhóm này được sản xuất từ nguyên liệu sinh học hoặc bằng con đường sinh học, gồm PLA (polylactic acid), PHA (polyhydroxyalkanoates), TPS (thermoplastic starch), hỗn hợp tinh bột và các loại khác.

(5) NPHSH có nguồn gốc dầu mỏ (Biodegradable plastics):  nhóm này chủ yếu gồm PBAT (Polybutylene adipate terephthalate), PCL (polycaprolactone), PBS (polybutylene succinate). NPHSH bao gồm PLA, PHA, hỗn hợp tinh bột và các loại khác hiện chiếm hơn 55% (1,17 triệu tấn) tổng lượng NSH trên thế giới. Trong đó PLA chiếm 24%, hỗn hợp tinh bột (44%), các polyester phân hủy sinh học khác 23% và PHA (6%). Sản lượng NPHSH dự kiến sẽ tăng lên 1,33 triệu tấn vào năm 2024, trong đó dự báo tốc độ tăng trưởng của PHA là nhanh nhất, ước tính tăng gấp 3 lần trong 5 năm tới. Trên thế giới, NPHSH được quan tâm phát triển do có nhiều ưu điểm như: thân thiện với môi trường; được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu tái tạo; an toàn cho người sử dụng; có khả năng tái chế.

(6) Thời gian gần đây, nhựa Việt Nam là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ (đạt 17,5% giai đoạn 2011-2020, chỉ sau viễn thông và dệt may). Sản lượng nhựa ở nước  ta năm 2019 đạt 8,9 triệu tấn, lượng nhựa tiêu thụ bình quân năm 2019 là 41 kg/người, cao gấp hơn 10 lần so với lượng tiêu thụ 3,8 kg/người vào năm 1990.

(7) Cùng với xu hướng phát triển của ngành nhựa thế giới, việc nghiên cứu sử dụng NSH, NPHSH hiện đang là mối quan tâm của các doanh nghiệp nhựa trong nước. Quan điểm phát triển ngành nhựa Việt Nam là phải đạt hiệu quả cao và bền vững, gắn liền với bảo vệ môi trường. Một số công ty đã nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm NPHSH như An Phát bioplastics đã phát triển thành công NPHSH có thể phân hủy hoàn toàn (100% compostable) mang nhãn hiệu AnEco, gồm các sản phẩm như: túi nilon, găng tay, dao, nĩa, ống hút, màng nông nghiệp… được sử dụng trong nước và xuất khẩu. Các công ty: Biostarch, Cổ phần sản xuất nhựa Phú Mỹ (PMP)... đã sử dụng kết hợp tinh bột và nhựa nguyên sinh PE, PP với hàm lượng tinh bột lên đến 40% để sản xuất sản phẩm có khả năng phân hủy sinh học. Một số hệ thống siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện lợi (Co.opmart, Vinmart, Big C, Mega Market, Lotte…) đã giảm dần việc sử dụng túi nhựa một lần, thay thế bằng các loại bao bì thân thiện môi trường. Hiện nay tỷ trọng NPHSH so với tổng lượng nhựa sử dụng ở Việt Nam vẫn còn thấp. Trong tương lai, nếu tỷ trọng này được nâng cao gần với tỷ trọng chung của thế giới thì đến năm 2025 tổng nhu cầu NPHSH của Việt Nam là khoảng 80 nghìn tấn/năm, như vậy tiềm năng phát triển đối với NPHSH là rất đáng kể.

(8) Ngoài ra, trên phương diện vĩ mô, với quan điểm nhất quán là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, Chính phủ và các bộ, ngành đã và đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường. Mới đây, Thủ tướng đã phê duyệt kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương; ban hành chỉ thị tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa. Việt Nam phấn đấu đến năm 2021 các cửa hàng, chợ, siêu thị ở đô thị không sử dụng đồ nhựa dùng một lần và đến năm 2025 cả nước không sử dụng đồ nhựa dùng một lần. Đây cũng là một động lực để thúc đẩy sự phát triển của NPHSH ở Việt Nam trong tương lai.

(9) Có thể khẳng định, khuyến khích sử dụng và phát triển NPHSH ở nước ta là phù hợp với xu thế chung của thế giới. Để hiện thực hóa mục tiêu này ở nước ta, cần quan tâm giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, cần có lộ trình cụ thể và các giải pháp đồng bộ để hạn chế dần các sản phẩm nhựa dùng một lần và tăng cường sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Hiện nay chưa có chính sách thuế phù hợp khiến giá thành NPHSH cao nên đã không tạo động lực khuyến khích người tiêu dùng sử dụng. Vì vậy, cần ban hành một số chính sách ưu đãi về thuế, phí cũng như hỗ trợ, khuyến khích đối với các doanh nghiệp sản xuất NPHSH để giảm giá thành sản phẩm, đồng thời mở rộng đối tượng chịu thuế và tăng mức thuế đối với túi nilon, bao bì và sản phẩm nhựa gốc (virgin plastics); kiểm tra ngăn chặn các hành vi trốn thuế bảo vệ môi trường, đặc biệt là đối với túi nilon.

Hai là, cùng với việc thúc đẩy sản xuất, trong xu hướng sản xuất gắn liền với sử dụng, tái sử dụng sản phẩm của nền kinh tế tuần hoàn hiện nay, cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức cộng đồng về nguy cơ ô nhiễm nhựa để tiến tới từ bỏ thói quen sử dụng túi nilon, các sản phẩm nhựa khó phân hủy và chuyển sang sử dụng các sản phẩm NPHSH. Triển khai giải pháp 3R (Reduce - Reuse - Recycle) và có lộ trình mở rộng giải pháp 3R lên 5R (Refuse - Reduce - Reuse - Recycle - Rot) 3. Từng bước triển khai hiệu quả công tác phân loại rác tại nguồn kèm theo xây dựng hệ thống xử lý rác thải đồng bộ để tăng cường thu hồi và tái chế sản phẩm nhựa.

Ba là, hiện nước ta chưa ban hành các tiêu chuẩn cụ thể đối với các sản phẩm NPHSH cũng như chưa có phòng thí nghiệm đạt tiêu chuẩn đánh giá NPHSH, dẫn đến bất cập trong việc kiểm định, đánh giá các sản phẩm dán nhãn NPHSH. Hiện nay, một số đơn vị nghiên cứu về vật liệu polymer phân hủy sinh học ở các trường đại học, viện nghiên cứu đã có một số nghiên cứu khá bài bản và thu được những kết quả đáng khích lệ về NPHSH. Nếu có các chính sách ưu tiên hỗ trợ kinh phí cho các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về NPHSH, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ sản xuất nhựa thân thiện với môi trường nhằm thay thế nhựa truyền thống sẽ giúp triển khai hiệu quả việc ứng dụng NPHSH trong thực tiễn.

Bốn là, các doanh nghiệp ngành nhựa cần phải thay đổi công nghệ sản xuất để hướng đến các sản phẩm thân thiện với môi trường hơn. Từng bước dịch chuyển từ việc sử dụng nguồn nguyên liệu dầu mỏ sang sử dụng nguồn nguyên liệu tái tạo (các nhà máy sản xuất PE, PP trong các khu liên hợp lọc hóa dầu có thể chuyển đổi để sản xuất thêm các loại nhựa bio-PE, bio-PP, chuyển đổi một phần các nhà máy sản xuất bio-ethanol sang sản xuất PLA…) sẽ giúp ngành công nghiệp nhựa của Việt Nam thích ứng với xu hướng phát triển mới ngành nhựa của thế giới.

(Nguồn: “Nhựa phân hủy sinh học và tiềm năng Phát triển ở Việt Nam” Đường Khánh Linh, Tạp chí Khoa học & Công nghệ Việt Nam, số 10, năm 2020)

Trả lời cho các câu 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60 dưới đây:

Nếu xem toàn bộ văn bản như một lập luận nhiều tầng, đâu là “hạt nhân tư tưởng” chi phối cách triển khai thông tin của tác giả?

A. Chứng minh rằng nhựa phân hủy sinh học là lựa chọn duy nhất có thể thay thế hoàn toàn nhựa truyền thống trong tương lai gần 
B. Đặt vấn đề ô nhiễm nhựa như một khủng hoảng môi trường để từ đó biện minh cho nhu cầu chuyển đổi mô hình sản xuất – tiêu dùng ở Việt Nam 
C. Khẳng định Việt Nam đã đạt được những bước tiến đủ lớn để trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực về công nghệ vật liệu sinh học 
D. Tập trung mô tả cấu trúc, cơ chế phân hủy và thành phần hóa học của nhựa sinh học nhằm phổ biến tri thức khoa học

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: B

Giải ngắn gọn:
Văn bản xoay quanh vấn đề ô nhiễm nhựa và từ đó dẫn đến nhu cầu phát triển nhựa phân hủy sinh học ở Việt Nam.

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Việc tác giả dành nhiều dung lượng để phân biệt “nhựa sinh học” với “nhựa phân hủy sinh học” chủ yếu nhằm mục đích nào?

A. Tránh sự đánh đồng khái niệm, từ đó định hướng người đọc tiếp cận vấn đề bằng tư duy khoa học thay vì trực giác ngôn ngữ 
B. Chứng minh rằng mọi loại nhựa có nguồn gốc sinh học đều không đủ khả năng thay thế nhựa dầu mỏ 
C. Làm nổi bật tính ưu việt tuyệt đối của nhựa phân hủy sinh học so với toàn bộ các vật liệu polymer khác
D. Tạo ra sự đối lập khái niệm nhằm nhấn mạnh mức độ phức tạp của ngành công nghiệp hóa dầu hiện đại

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: A

Giải ngắn gọn:
Tác giả phân biệt NSH và NPHSH để tránh hiểu sai rằng cứ “nhựa sinh học” là tự phân hủy được.

Câu 3:

Các số liệu về sản lượng, tỉ trọng và tốc độ tăng trưởng của NPHSH trong đoạn (5) chủ yếu thực hiện chức năng nào dưới đây?

A. Tạo cảm giác khách quan bề mặt nhằm tăng độ tin cậy cho một quan điểm vốn thiên về cổ vũ chính sách 
B. Chứng minh rằng xu hướng phát triển NPHSH đã đạt đến trạng thái ổn định và bão hòa trên phạm vi toàn cầu 
C. Biến văn bản từ tính chất khoa học sang tính chất quảng bá thị trường cho ngành công nghiệp vật liệu sinh học 
D. Dùng dữ liệu như một hình thức “dự báo mềm”, khiến triển vọng phát triển NPHSH hiện lên như xu thế khó đảo ngược

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: D

Giải ngắn gọn:
Các số liệu được đưa ra nhằm cho thấy NPHSH đang phát triển mạnh và trở thành xu hướng khó đảo ngược.

Câu 4:

Chi tiết Việt Nam tiêu thụ nhựa bình quân năm 2019 cao gấp hơn 10 lần năm 1990 tạo ra hiệu ứng lập luận nào?

A. Biến sự phát triển của ngành nhựa thành bằng chứng cho thành công kinh tế thời kì hiện đại hóa 
B. Làm nổi bật nghịch lí: tốc độ tăng trưởng tiêu dùng cũng đồng thời kéo theo áp lực môi trường ngày càng lớn 
C. Chứng minh rằng mức tiêu thụ nhựa của Việt Nam đã vượt quá khả năng kiểm soát của hệ thống quản lí môi trường 
D. Tạo thế đối lập trực tiếp giữa nhu cầu tiêu dùng của người dân và chiến lược phát triển xanh của Chính phủ

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: B

Giải ngắn gọn:
Chi tiết tiêu thụ nhựa tăng mạnh làm nổi bật nghịch lí: phát triển kinh tế kéo theo áp lực môi trường lớn hơn.

Câu 5:

Đoạn (7) giữ vai trò gì trong cấu trúc lập luận toàn văn?

A. Chuyển từ nền tảng khái niệm – khoa học sang bình diện ứng dụng và khả năng triển khai thực tiễn tại Việt Nam 
B. Khép lại phần trình bày học thuật để mở sang tranh luận phản biện về chính sách môi trường 
C. Đưa ra ngoại lệ nhằm phủ nhận tính khả thi của việc phát triển NPHSH trong điều kiện Việt Nam 
D. Tạo một “khoảng nghỉ thông tin” trước khi văn bản quay trở lại phân tích cơ chế phân hủy polymer

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: A

Giải ngắn gọn:
Đoạn (7) chuyển từ phần lí thuyết sang thực tiễn ứng dụng và tiềm năng phát triển ở Việt Nam.

Câu 6:

Điểm đáng chú ý trong giọng điệu của văn bản là gì?

A. Giữ vẻ trung tính bề ngoài nhưng thực chất định hướng người đọc nghiêng về lập trường ủng hộ phát triển NPHSH 
B. Mang tính tranh biện mạnh, liên tục phản bác các quan điểm trái chiều về nhựa sinh học 
C. Thiên hẳn về cảm xúc cảnh báo, ưu tiên gây áp lực tâm lí hơn cung cấp thông tin 
D. Chủ yếu sử dụng ngôn ngữ chuyên môn để tạo khoảng cách học thuật với người đọc phổ thông

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: A

Giải ngắn gọn:
Giọng văn mang vẻ khách quan khoa học nhưng thực chất định hướng ủng hộ phát triển NPHSH.

Câu 7:

Việc nhắc đến các hệ thống siêu thị lớn giảm dùng túi nhựa một lần có ý nghĩa sâu hơn việc cung cấp ví dụ ở điểm nào?

A. Cho thấy chuyển đổi môi trường không còn là vấn đề thuần nghiên cứu mà đã bắt đầu thâm nhập vào hành vi thị trường và tiêu dùng đại chúng
B. Chứng minh doanh nghiệp bán lẻ hiện là lực lượng duy nhất đủ khả năng dẫn dắt thay đổi môi trường tại Việt Nam 
C. Khẳng định các giải pháp tự nguyện của doanh nghiệp hiệu quả hơn chính sách quản lí của Nhà nước 
D. Nhấn mạnh rằng việc thay đổi thói quen tiêu dùng dễ thực hiện hơn đổi mới công nghệ sản xuất

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: A

Giải ngắn gọn:
Ví dụ về siêu thị cho thấy xu hướng “xanh hóa” đã đi vào đời sống tiêu dùng thực tế.

Câu 8:

Trong phần cuối văn bản, tác giả triển khai các giải pháp theo logic nào?

A. Từ thay đổi nhận thức cá nhân → mở rộng sang cải cách công nghệ → cuối cùng mới đến chính sách quản lí 
B. Từ điều chỉnh chính sách vĩ mô → thay đổi hành vi xã hội → hoàn thiện khoa học công nghệ → chuyển đổi sản xuất 
C. Từ giải pháp dễ thực hiện trước mắt → đến các giải pháp dài hạn mang tính chiến lược quốc gia 
D. Từ nguyên nhân gây ô nhiễm → hậu quả môi trường → đề xuất cơ chế xử phạt hành chính

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: B

Giải ngắn gọn:
Các giải pháp được triển khai theo trình tự: chính sách → xã hội → nghiên cứu → sản xuất.

Câu 9:

Qua toàn bộ văn bản, có thể thấy tác giả nhìn nhận vấn đề ô nhiễm nhựa theo hướng nào?

A. Một vấn đề thuần công nghệ, chỉ cần thay đổi vật liệu là có thể giải quyết triệt để 
B. Một vấn đề đa tầng, đòi hỏi đồng thời thay đổi chính sách, nhận thức xã hội, công nghệ và mô hình tiêu dùng 
C. Một hệ quả tất yếu của hiện đại hóa nên không thể xử lí hoàn toàn trong thực tế 
D. Một khủng hoảng môi trường chủ yếu bắt nguồn từ ý thức cá nhân của người tiêu dùng

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: B

Giải ngắn gọn:
Tác giả xem ô nhiễm nhựa là vấn đề đa tầng, cần giải quyết đồng bộ nhiều mặt.

Câu 10:

Câu “khuyến khích sử dụng và phát triển NPHSH ở nước ta là phù hợp với xu thế chung của thế giới” thực chất giữ vai trò gì trong toàn bộ văn bản?

A. Một kết luận mang tính tổng hợp, dùng để hợp thức hóa toàn bộ chuỗi lập luận phía trước 
B. Một nhận định trung tính nhằm khép lại phần thông tin khoa học về vật liệu polymer 
C. Một khẩu hiệu chính trị được đưa vào nhằm tăng tính thời sự cho bài viết khoa học 
D. Một cách nói giảm nhằm tránh khẳng định quá mạnh về hiệu quả thực tế của NPHSH

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án: A

Giải ngắn gọn:
Đây là câu kết luận tổng hợp, khẳng định phát triển NPHSH là xu hướng tất yếu.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Phương pháp giải:

Dựa vào thông tin ở đoạn văn bản.

Giải chi tiết:

Hệ số nhiệt độ   thường có giá trị trong khoảng 2-3.

Lời giải

Đáp án:

Ô 1: nhỏ
Ô 2: S/V
Ô 3: nhanh
Ô 4: kháng sinh Tetracylin
Ô 5: vitamin B12

Đáp án: NhỏS/Vnhanhkháng sinh Tetracylinvitamin B12

Phương pháp giải:

Đọc thông tin trên bài đọc để tìm từ khóa chính xác

Giải chi tiết:

Vi khuẩn có kích thước nhỏ nên có tỉ lệ S/V lớn. Nhờ vậy có khả năng sinh trưởng và sinh sản nhanh, có thể thu lượng sinh khối lớn. Do đó, vi sinh vật được ứng dụng nhiều trong sản xuất các chế phẩm sinh học. Người ta nuôi cấy hai loài vi khuẩn Streptomyces rimosus để thu kháng sinh Tetracylin Propionibacterium shermanii để thu vitamin B12.

Câu 3

A. Nồng độ ion ban đầu C0
B. Thể tích dung dịch V
C. Khối lượng pectin m
D. Khối lượng kim loại ban đầu mkimloại

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Câu 5

A. Não bộ có thể tiếp thu hoàn toàn kiến thức mới nếu được kích thích đúng cơ chế sóng điện não. 
B. Giấc ngủ chủ yếu hỗ trợ quá trình củng cố, tổ chức và tăng cường những ký ức đã tồn tại trước đó. 
C. Các công nghệ thần kinh hiện nay đã đủ khả năng thay thế hoạt động học tập truyền thống. 
D. Hiện tượng “học khi ngủ” thực chất chỉ là hiệu ứng tâm lý khiến con người tưởng mình tiến bộ hơn.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP