Trình bày các loại rủi ro thường gặp trong hoạt dộng KD của NH. Cho một ví dụ minh hoạ về 1 loại rủi ro nêu trên Trong quá tình kinh doanh của ngân hàng thì sẽ gặp các rủi ro như sau:
Quảng cáo
Trả lời:
1.Rủi ro tín dụng:
• Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của NH, biểu hiện trên thực tế qua việc KH không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho NH
• Rủi ro tín dụng có hai cấp độ: o KH trả nợ không đúng hạn o KH không trả được nợ cho NH Fanpage: Luyện Thi Sinh Viên
2.Rủi ro thanh khoản: là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh
• Rủi ro thanh khoản: là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp NH thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
• Quản trị thanh khoản: là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản (tính lỏng) của TS và cấu trúc danh mục của nguồn vốn
• Bản chất của công tác quản trị thanh khoản:
o NH thường xuyên đối phó tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh khoản
o Thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với nhau Ví dụ rủi ro thanh khoản: Ngày 15/2/2022 NH ACB rộ lên tin đồn tổng giám đốc NH ôm tiền bỏ trốn, lúc này người dân đỗ xô đến ngân hàng để rút tiền, do đồng loạt rút tiền, tiền trong ngân hàng k đủ để chi trả cho KH dường như lúc này ACB đang trên bờ vực mất khả năng thanh khoản.
3. Rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động NH là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho NH 4.Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị trường hoặc những yếu tố có liên quan đến lãi suất, dẫn đến nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của NH. Ví dụ rủi ro lãi suất : Giả sử, ngân hàng A có nhu cầu cho vay hai khoản vay: Khoản cho vay thứ nhất có giá trị là 200 triệu với thời hạn là 01 năm và lãi suất cố định là 10%/ năm. Khoản cho vay thứ hai có giá trị là 200 triệu với thời hạn 02 năm và lãi suất cố định là 11%/ năm Trong đó, nguồn cho vay của ngân hàng A được tìm kiếm bằng cách vay trên thị trường liên ngân hàng. Số tiền vay là 400 triệu với lãi suất cố định là 6%/ năm đối với khoản vay 01 năm và 7%/ năm nếu vay 02 năm.
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
- Vốn tự có là gì: vốn chủ sở hữu của NHTM bao gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia và một số tài sản nợ khác theo quy định của ngân hàng Nhà Nước
- Đặc điểm VTC (vốn điều lệ) : do tính âm hưởng, hiệu quả, tất yếu . Tầm quan trọng của vốn tự có trong hoạt động kinh doanh của NHTM:
- Cung cấp nguồn lực cho NH hoạt động trong thời gian mới bắt đầu hoạt động
- Là nguồn vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của NH
- Chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh nhưng giữ vai trò rất quan trọng
- Quyết định quy mô hoạt động của NH
- Là yếu tố để cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỷ lệ an toàn trong kinh doanh của NH Vai trò của nguồn vốn này trong việc QTRR ngân hàng:
- Tạo điều kiện bảo vệ tài sản cho KH đã ký thác tài sản tại NH
- Tạo điều kiện ổn định và tăng trưởng vốn tự có một cách hợp lý nhằm nâng cao sức đề kháng của NH trước rủi ro và nguy cơ phá sản
- Giúp nhà quản trị quản lý hiệu quả vốn tự có và tăng khả năng sinh lời cho NH một cách bền vững
- Đảm bảo cho NH đạt được một mức vốn tự có phù hợp với quy mô hoạt động và mức độ rủi ro trong kinh doanh
Lời giải
Mô hình 3 tuyến phòng vệ trong QTRR ngân hàng: Mô hình 3 tuyến phòng thủ (three lines of defense) được đề cập nhiều trong các tài liệu của COSO, IIA (Institute of Internal Auditors) và BIS (Bank for International Settlements), Ủy ban Basel.
• Tuyến phòng thủ thứ nhất: Quản lý rủi ro tại các đơn vị trực tiếp kinh doanh như các chi nhánh, các khối kinh doanh, các chuyên viên khách hàng và các đơn vị vận hành tại hội sở.
• Tuyến phòng thủ thứ nhất: Quản lý rủi ro tại các đơn vị trực tiếp kinh doanh như các chi nhánh, các khối kinh doanh, các chuyên viên khách hàng và các đơn vị vận hành tại hội sở.
• Tuyến phòng thủ thứ ba: Bộ phận kiểm toán nội bộ. Tuyến này trực thuộc Ban kiểm soát và không thuộc Ban điều hành của ngân hàng, nên việc đánh giá 2 tuyến phòng thủ trước và các rủi ro có thể xảy ra được thực hiện độc lập và khách quan. Tuyến này sẽ giúp cho Ban Kiểm soát và Hội đồng quản trị về hiệu quả của tổ chức xuyên suốt hoạt động của các bộ phận kinh doanh, vận hành, quản trị rủi ro... Ý nghĩa của từng tuyến phòng vệ:
- Tuyến thứ nhất: Tuyến phòng thủ đầu tiên là để bảo vệ ngân hàng. Tuyến này có chức năng tiếp xúc khách hàng và xử lý giao dịch có vai trò người sở hữu rủi ro (risk owner) trong mảng việc mình phụ trách. Nhiệm vụ chính của các đơn vị này là xác định, đánh giá, ngăn ngừa, báo cáo và theo dõi các rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh (cho vay) và các quy trình vận hành khác; bảo vệ lợi ích của đơn vị thông qua việc tự đánh giá rủi ro và kiểm soát tính hiệu quả của từng đơn vị.
- Tuyến thứ hai: Tuyến phòng thủ thứ hai sẽ thiết lập các chính sách, khẩu vị rủi ro, quy trình, phê duyệt sản phẩm, kiểm soát và thành lập ngay các hệ thống cảnh báo sớm, xây dựng kế hoạch thu nợ và quy trình hoạt động, đảm bảo nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân tham gia xuyên suốt vào quy trình tín dụng,... Tuyến này có rất nhiều nhiệm vụ, trong đó quan trọng hơn cả là việc độc lập đánh giá và kiểm soát (kiểm tra và cân đối) tính hiệu quả của hệ thống ở tuyến phòng thủ thứ nhất; quản lý rủi ro chính thông qua việc thiết lập khẩu vị rủi ro/chính sách cho vay, xây dựng quy trình/hướng dẫn tín dụng và cho vay, theo dõi, cảnh báo sớm, quản trị danh mục...; giám sát các chương trình kiểm soát nội bộ, tuân thủ...
- Tuyến thứ ba: Là ngân hàng kinh doanh tiền gửi, các ngân hàng thương mại quản lý, giám sát một lượng tiền và các giấy tờ có giá trị lớn. Các loại tài sản này thường đòi hỏi phải có những biện pháp bảo vệ an ninh chặt chẽ cả khi bảo quản cất giữ,vận chuyển cũng như chuyển giao, đồng thời cũng biến ngân hàng thành nơi nhậy cảm với các vấn đề biển thủ, tham ô, gian lận và vượt thẩm quyền. Các mục tiêu về tính tuân thủ quy định pháp luật, bảo vệ tài sản và cung cấp thông tin đáng tin cậy có thể dễ dàng bị vi phạm. Vì vậy, các ngân hàng thường phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ nghiêm khắc, chặt chẽ với việc xây dựng và triển khai các loại kiểm soát và nguyên tắc kiểm soát phù hợp. Kiểm toán nội bộ được sử dụng như một công cụ giúp nhà quản trị ngân hàng thực hiện các mục tiêu kiểm soát nội bộ. Tuyến phòng thủ thứ ba: với chức năng kiểm toán nội bộ độc lập với chức năng hằng ngày của ngân hàng và có thể tiếp cận với tất cả các hoạt động ngân hàng thực hiện, bao gồm cả hoạt động ở chi nhánh, sở giao dịch và công ty con. Do vậy, phạm vi hoạt động của kiểm toán nội bộ rất rộng và đa dạng, cho phép kiểm toán viên có thể thu thập bằng chứng đủ để đưa ra ý kiến nhận xét. Mặt khác, thông qua việc báo cáo trực tiếp Hội đồng quản trị, Ủy ban kiểm toán, Ban điều hành, sẽ cho phép kiểm toán nội bộ cung cấp thông tin khách quan không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ cấp quản lý nào. Tuyến phòng thủ thứ ba, được tổ chức đầy đủ và toàn diện về nội dung, phương pháp, quy trình và kiểm soát chất lượng nhằm giúp cho hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng có thể nhận biết, đánh giá và giám sát các loại rủi ro kịp thời; báo cáo các cấp quản lý thích hợp và đưa ra giải pháp để khắc phục những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.