khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

24/08/2026 363 Lưu

Phân tích và chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi cho cách mạng Việt Nam

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Lịch sử cách mạng nước ta chứng minh: Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là người lãnh đạo và tổ chức thắng lợi của cách mạng nước ta.

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước lên vũ đài chính trị, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước, chấm dứt thời kỳ đấu tranh tự phát, chuyển lên thời kỳ đấu tranh tự giác của giai cấp công nhân. Nó chứng tỏ giai cấp này đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trong hơn bảy thập kỷ qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta trải qua những chặng đường lịch sử oanh liệt, giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa dân tộc và thời đại sâu sắc, đó là:

  • Cách mạng tháng Tám năm 1945: Mới 15 tuổi, nhờ kiên quyết đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, bằng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền trên phạm vi cả nước, đập tan xiềng xích nô lệ, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp gần 90 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Thắng lợi đó đã đưa cách mạng nước ta bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do, hướng tới chủ nghĩa xã hội.

  • Thời kỳ 1945–1954: Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta chống thù trong, giặc ngoài, giữ vững chính quyền, tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm thắng lợi, giải phóng miền Bắc. Với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, ta đã đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược của thực dân Pháp, giải phóng một nửa đất nước, chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia.

  • Thời kỳ 1954–1975: Đảng lãnh đạo nhân dân ta giành nhiều thành tựu to lớn ở miền Bắc, đồng thời lãnh đạo thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi này đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải thừa nhận quyền độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân Việt Nam, tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

  • Từ năm 1975 đến nay: Đảng lãnh đạo nhân dân ta thu được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện đường lối đổi mới, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng và bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Sở dĩ có được những thắng lợi đó là vì:

  • Đảng là người đầy tớ trung thành, đại diện cho lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân là mục đích của Đảng. Đảng luôn trung thành với Tổ quốc, nhân dân, đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, được nhân dân tin yêu và ủng hộ.

  • Đảng luôn quán triệt trong mọi hoạt động của mình quan điểm: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, phải lấy dân làm gốc. Dựa vào quần chúng, phục vụ quần chúng, giữ vững mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng.

  • Đường lối của Đảng luôn phản ánh quyền lợi, nguyện vọng và khả năng của quần chúng. Cho nên Đảng luôn được quần chúng tin yêu và ủng hộ. Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp to lớn, mới mẻ.

  • Đảng lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo xã hội bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác một cách đúng đắn, sáng tạo. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị bằng cách liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

  • Đảng biết nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra đường lối độc lập, tự chủ, đúng đắn. Đảng luôn có ý thức vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, nhờ đó mà đề ra được đường lối đúng đắn.

Những sai lầm, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm

Tuy vậy, trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng cũng mắc những sai lầm, khuyết điểm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu là do chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan,...

Từ Đại hội VI đến nay, Đảng luôn quán triệt tư tưởng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan để đề ra đường lối đúng. Thước đo của đường lối đúng là sản xuất phát triển, chính trị ổn định, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện.

Đang tải chế độ Học...

Hot: 1000+ đề thi giữa kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay

ĐẶC QUYỀN VIP

Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn

Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.

  • Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
  • Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
  • Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
  • Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
  • Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
  • Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
  • Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
  • Đăng ký ngay

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Câu 1

Trình bày bài học: Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam?

Lời giải

Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1930 đến nay, đã vượt qua những khó khăn thử thách và đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác . Cách mạng Tháng Tám năm 1975 thành công chấm dứt chế độ phong kiến thực dân, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thắng lợi. Cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được tiến hành trên miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975 và đặc biệt là quá trình đổi mới từ sau năm 1986 đã đạt được những thành tựu quan trọng, khẳng định tính đúng đắn của con đường và mục tiêu cách mạng Việt Nam là gắn liền với độc lập dân tộc .

Những thắng lợi to lớn có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt Nam bắt nguồn từ nhiều nhân tố, trong đó nhân tố quyết định nhất là sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam –một Đảng luôn luôn lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.

Sở dĩ Đảng là người tổ chức và lãnh đạo duy nhất mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, vì:

-Đây là sự lựa chọn của chính lịch sử .

-Đảng là đại biểu trung thành với đầy đủ lợi ích sống còn và nguyện vọng chân chính của giai cấp công nhân , của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam.

Độc lập dân tộc , tự do hạnh phúc cho nhân dân là mục tiêu , là lý tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng đã nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục đích, là con đường cách mạng của Đảng. Vì mục đích đó mà qua các thời kỳ lịch sử cách mạng Việt Nam, biết bao chiến sĩ anh hùng đã cống hiến trọn đời mình cho cách mạng . Đảng luôn luôn tuyệt đối trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân và chính điều đó Đảng mới có đủ sức mạnh làm nên sự nghiệp lớn.

Đảng thường xuyên giáo dục Đảng viên, cán bộ phải có ý thức biết đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng: “Mọi quan điểm tư tưởng coi Đảng là làm chức này, chức nọ” “để tìm công ăn việc làm” đều xa lạ với đạo đức cách mạng , đều sai trái “với nguyên tắc cao nhất của Đảng”.

Đảng luôn luôn quán triệt trong mọi hoạt động của mình quan điểm sự nghiệp cách mạng là của nhân dân , do nhân dân và vì nhân dân , phải ‘lấy dân làm gốc”.

Đảng biết dựa vào lực lượng quần chúng , phát huy tính tích cực cách mạng của quần chúng , toàn tâm toàn lực phục vụ quần chúng . Trong suốt cả quá trình lãnh đạo cách mạng , Đảng đã có đường lối chính sách đúng, phản ánh được lợi ích chân chính và nguyện vọng của nhân dân . Đại đa số đảng viên của Đảng đã tham gia thời kỳ hoạt động bí mật và trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Họ đã kiên trì bám sát quần chúng để xây dựng cơ sở, phát động đấu tranh giành lại quyền sống. Nhân dân ta luôn luôn nghe theo Đảng, tin theo Đảng mặc dù trong bước đường cách mạng gặp khó khăn, họ vẫn tin Đảng ,bảo vệ Đảng.

Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, đất nước thống nhất đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa ,Đảng vẫn ý thức được rằng, trong mọi hoạt động của mình phải quán triệt quan điểm “lấy dân làm gốc”.

-Đảng biết nắm vững, vận dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuất phát từ thực tiễn, Đảng đề ra đường lối chính trị đúng đắn và nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng.

-Sự sụp đổ của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa, các thế lực đế quốc và thù địch chỉ cần tấn công vào các Đảng Cộng sản và Công nhân, làm vô hiệu hoá hoặc tan vỡ từ bên trong các Đảng Cộng sản đang cầm quyền.

-Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn thúc đẩy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình.

-Đảng luôn có ý thức vận dụng một cách độc lập và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.

-Đảng có ý thức kế thừa di sản tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với thực tiễn đất nước và tinh hoa truyền thống dân tộc .

-Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ thắng lợi là nhờ Đảng ta đề ra đường lối cm dân tộc dân chủ đúng đắn, có sự chỉ đạo chiến lược và sách lược sắc bén....

-Các yếu tố nói trên đảm bảo cho Đảng ta luôn luôn giữ vững vai trò là người lãnh đạo cách mạng , được quần chúng tin cậy và một lòng theo Đảng.

-Thời kỳ cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1975 đến năm 1985 đất nước ta còn nhiều khó khăn. Xét đến nguyên nhân, về mặt chủ quan, Đảng tự kiểm điểm là đã phạm một số sai lầm, đặc biệt là trong việc xác định chủ trương đường lối và cả trong công tác xây dựng Đảng.

-Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra những thiếu sót và đề ra nhiệm vụ cấp bách là phải đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ lịch sử , coi đó là nhiệm vụ hàng đầu và thường xuyên trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

-Điều quan trọng trước hết là Đảng phải đổi mới tư duy, nâng cao trình độ trí tuệ của Đảng lên một bước phát triển mới, Đảng cần coi trọng việc nắm vững và vận dụng sáng tạo những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa. Tổng kết một cách khoa học kinh nghiệm thực tế sinh động từ phong trào quần chúng nước ta và tiếp thu có chọn lọc trí tuệ thời đại, đề ra đường lối, chủ trương cho thật đúng, thật sát hợp với quy luật khách quan và với đặc điểm riêng của cách mạng nước ta.

-Đảng thường xuyên xây dựng vững mạnh về tổ chức, nâng cao sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn. Đảng luôn luôn tuân thủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng như nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách nguyên tắc phê bình và tự phê bình, xây dựng Đảng thành đội tiên phong chiến đấu, luôn luôn đoàn kết thống nhất trên cơ sở đường lối chính sách đúng và các nguyên tắc của Đảng. Mặt khác, Đảng cần hết sức coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng , giáo dục đảng viên về trình độ chính trị văn hoá, khoa học –kỹ thuật, về năng lực lãnh đạo và quản lý , về phẩm chất , đạo đức, tư cách sao cho tương xứng với yêu cầu lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Lời giải

Những thuận lợi của Việt Nam sau năm 1975

  • Đất nước thống nhất, có điều kiện để sử dụng tốt các nguồn lực trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

  • Nhân dân ta có tinh thần tự lực, tự cường, thiết tha với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí rất cao đối với vấn đề xây dựng lại đất nước sau chiến tranh.

  • Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại đang diễn ra, tạo điều kiện cho chúng ta tận dụng được nguồn vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý để rút ngắn thời gian trong quá trình phát triển.

  • Những thành công và không thành công trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và ở những nước xã hội chủ nghĩa giúp chúng ta rút ra được những bài học bổ ích cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.

Những khó khăn của Việt Nam sau năm 1975

  • Xuất phát điểm của nền kinh tế là một nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân tán, năng suất lao động thấp, lại chịu hậu quả của chiến tranh gần 30 năm.

  • Từ một nền kinh tế được viện trợ (gần 50% GDP mỗi miền) chuyển sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào sức mình.

  • Các thế lực thù địch chống phá.

  • Tình hình quốc tế có nhiều biến động. Hệ thống xã hội chủ nghĩa sụp đổ, gây tác động tiêu cực đến phong trào cách mạng trên thế giới và cách mạng Việt Nam.

  • Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều vấp váp và mô hình chủ nghĩa xã hội trước đây có nhiều khuyết tật mà những khuyết tật đó chưa được Đảng ta nhận thức đầy đủ ở những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước.

Hoàn cảnh lịch sử

  • Từ năm 1980 trở đi, xu thế trên thế giới chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại.

  • Các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu đều đã và đang tiến hành những hoạt động cải cách kinh tế để khắc phục những khiếm khuyết trong mô hình chủ nghĩa xã hội.

  • Ở Việt Nam, sau hơn một thập kỷ (1975–1985) vừa phát triển kinh tế, vừa tìm tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta đạt được những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhưng khó khăn cũng chồng chất. Đất nước từ giữa những năm 80 lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội nặng nề, chưa ổn định được tình hình kinh tế – xã hội như mục tiêu mà Đại hội V đề ra.

  • Đại hội VI đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam là đổi mới (tìm biện pháp, bước đi đúng để xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn).

Nội dung cơ bản của Đại hội VI

Đại hội VI kiểm điểm 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Báo cáo chính trị của Đại hội đã chỉ ra những thành tựu ta đạt được và chỉ ra tính chất nghiêm trọng của khủng hoảng kinh tế – xã hội, tình trạng lạc hậu về nhận thức lý luận, chậm tổng kết kinh nghiệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong công tác chậm thực hiện đổi mới cán bộ.

Đại hội VI rút ra 4 bài học kinh nghiệm:

  • Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng lấy dân làm gốc, chăm lo xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

  • Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, phải tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện đảm bảo sự đúng đắn của Đảng.

  • Phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc và sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.

  • Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với Đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Chủ trương đổi mới toàn diện và sâu sắc về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta.

Mục tiêu tổng quát

“Ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội. Tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa trong chặng đường tiếp theo.”

Năm mục tiêu cụ thể trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên

  • Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.

  • Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý, hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

  • Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

  • Tạo ra bước chuyển biến tốt về mặt xã hội (trên các lĩnh vực tạo việc làm, công bằng xã hội, chống tiêu cực, mở rộng dân chủ, giữ kỷ cương).

  • Đảm bảo nhu cầu quốc phòng và an ninh.

Hệ thống giải pháp – những quan điểm mới trong lĩnh vực kinh tế

1. Bố trí cơ cấu sản xuất

Điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện ba chương trình về lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu (đây cũng là nội dung của đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên).

2. Về cải tạo xã hội chủ nghĩa

Cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với hình thức và bước đi thích hợp; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, luôn luôn có tác dụng thúc đẩy lực lượng sản xuất.

Công nhận nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, coi chủ trương phát triển nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là chủ trương chiến lược lâu dài và là một đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

3. Về cơ chế quản lý kinh tế

Xóa bỏ cơ chế quan liêu, bao cấp; xây dựng cơ chế mới (cơ chế thị trường) phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.

Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước cho phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần và cơ chế quản lý mới.

4. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Thực hiện có nền nếp khẩu hiệu: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Coi phát huy quyền làm chủ của nhân dân là động lực của chủ nghĩa xã hội, động viên và tổ chức cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế và quản lý xã hội, tham gia cải cách kinh tế.

5. Mở rộng hợp tác quốc tế

Mở rộng hợp tác quốc tế trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình.

Ý nghĩa của Đại hội VI

Đại hội VI đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong quá trình kế thừa và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc.

Thành công của Đại hội là sức mạnh mới, là cơ sở hết sức quan trọng trong việc tăng cường đoàn kết, thống nhất giữa toàn Đảng, toàn dân.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP