I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
QUA ĐÈO NGANG
(Bà Huyện Thanh Quan)
Bước tới Đèo Ngang[1], bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi, tiều[2] vài chú,
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc[3],
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.[4]
Dừng chân đứng lại trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.
(Tuyển tập thơ Bà Huyện Thanh Quan, NXB Hội nhà văn, 1971, tr 76)
Chú thích:
- Bà Huyện Thanh Quan: tên thật là Nguyễn Thị Hinh (1805-1848); xuất thân trong một gia đình nhà nho ở làng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội). Chồng bà làm quan tri huyện Thanh Quan (thuộc Thái Ninh, tỉnh Thái Bình) do đó mà bà có tên gọi là Bà Huyện Thanh Quan. Bà nổi tiếng là một nữ sĩ học rộng, tài cao. Thơ của bà thể hiện lòng yêu mến cảnh quan thiên nhiên, đất nước và tâm sự u hoài trước thế sự đổi thay.
- Bài thơ Qua Đèo Ngang: được sáng tác khi bà trên đường từ Bắc Hà vào Huế nhận chức “Cung Trung giáo tập” dạy học cho các cung phi.
[1]. Đèo Ngang: thuộc dãy núi Hoành Sơn, một nhánh của dãy núi Trường Sơn, phân chia địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh.
[2] Tiều: người chuyên nghề đốn củi.
[3]. Con quốc quốc (cũng viết là cuốc cuốc): chim đỗ quyên (chim cuốc). Theo truyền thuyết Trung Quốc, Thục Đế mất nước, hồn biến thành chim cuốc, kêu nhớ nước đến nhỏ máu ra mà chết
[4]. Cái gia gia (cũng viết là da da): chim đa đa, còn gọi là gà gô.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để nhận biết thể thơ của văn bản.
Câu 2. Xác định các tiếng gieo vần trong bài thơ.
...........................................................................................