I. ĐỌC HIỂU
Đọc kĩ văn bản sau
“Tự trọng” nghĩa là biết coi trọng mình, nhưng không phải theo nghĩa vị kỷ (chỉ biết đến danh lợi của bản thân mình) mà là coi trọng phẩm giá / đạo đức của mình. Một người có tự trọng hay không cũng thường được thể hiện qua câu trả lời hay qua hành xử của anh ta cho những câu hỏi như: “Điều gì khiến tôi sợ hãi / xấu hổ?”, “Điều gì khiến tôi tự hào / hạnh phúc?”.
Người tự trọng tất nhiên sẽ biết sợ sự trừng phạt của nhà nước (sợ pháp lí nếu làm trái pháp luật và sợ điều tiếng dư luận của xã hội (sợ đạo lí) nếu làm trái với luân thường lẽ phải. Nhưng đó vẫn chưa phải là điều đáng sợ nhất với họ. Điều đáng sợ nhất đối với một người tự trọng là sự giày vò bản thân khi làm những chuyện đi ngược lại lương tri của chính mình, phản bội lại lẽ sống, giá trị sống nguyên tắc sống mà mình theo đuổi và có cảm giác đánh mất chính mình. Nói cách khác, đối với người có tự trọng, có đạo đức, “tòa án lương tâm” còn đáng sợ hơn cả “tòa án nhà nước” hay “tòa án dư luận”.
Người tự trọng thường đối diện với lương tri và phẩm giá của bản thân, đối diện với “con người bên trong” của mình để hành động hơn là đối diện với sự răn đe của luật pháp hay sự phán xét của dư luận bên ngoài. Do đó họ sẵn lòng làm việc xấu, việc sai, ngay cả khi việc xấu, việc sai đó rất có lợi cho mình và nếu có làm thì cũng không sao cả, vì việc xấu, việc sai đó đã trở nên phổ biến và bình thường với mọi người.
Chẳng hạn, một người chăm chỉ thì khi làm ở một công ty mà ở đó mọi người đều làm việc chăm chỉ thì anh ta cũng sẽ làm việc chăm chỉ, còn khi đi đến một công ty mà ở đó hầu hết mọi người đều... làm biếng thì anh ta vẫn sẽ làm việc chăm chỉ, làm việc hết mình. Anh ta làm việc không phải vì sự sợ hãi cái nhìn của sếp hay sự đánh giá của đồng nghiệp, mà vì con người anh ta vốn dĩ là như thế, anh ta không muốn sống khác đi, dù là ở đâu. Ngày nay, giới trẻ thường được câu nói “Hãy là chính mình!” như một câu châm ngôn thông thường để cổ vũ cho sự tự do, thoải mái làm những điều mình thích. Nhưng không phải ai cũng hiểu và thực hiện phương châm “Hãy là chính mình!” một cách sâu sắc như anh nhân viên trong ví dụ trên. [...]
Người tự trọng có hạnh phúc, có tự hào khi được sự ghi nhận, mến trọng hay ngưỡng mộ của người khác dành cho mình không? Câu trả lời đương nhiên là “Có, rất hạnh phúc, rất tự hào”. Nhưng đó chưa phải là hạnh phúc lớn nhất. Niềm hạnh phúc lớn nhất với họ là niềm tự hào sâu kín và riêng tư bên trong con người họ về những việc mà họ làm, về những điều mà họ theo đuổi. Chính vì được dẫn dắt bởi cái bên trong hơn là bị chi phối từ bên ngoài, người tự trọng thường rất tự do và tự trị khi hành động.
(Trích Đúng việc, Giản Tư Trung, NXB Tri thức, tr.25-27)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (1.0 điểm) Tìm 01 câu văn sử dụng thao tác nghị luận giải thích trong văn bản trên.
Câu 2 (1.0 điểm) Dựa vào nội dung văn bản, nêu lí do khiến người tự trọng ít khi làm việc xấu, việc sai.
Câu 3 (1.0 điểm) Phân tích cách sử dụng bằng chứng trong văn bản.
Câu 4 (1.0 điểm) Lí giải hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường trong câu văn sau: Nói cách khác, đối với người có tự trọng, có đạo đức, “tòa án lương tâm” còn đáng sợ hơn cả “tòa án nhà nước” hay “tòa án dư luận”.
Câu 5 (1.0 điểm) Đánh giá mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề “Đúng việc” của tác phẩm mà văn bản đã trích.
Câu 6 (1.0 điểm) Trong văn bản, tác giả đề cập đến một phương châm sống của giới trẻ hiện nay: “Hãy là chính mình … tự do, thoải mái làm những điều mình thích”. Trình bày quan điểm của anh/chị về ý kiến trên trong 5 – 7 dòng.