khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

01/06/2026 33 Lưu

Phân tích các nội dung về bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra? Cho ví dụ minh họa.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Điều 587 BLDS 2015, Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

-> trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi “nhiều người cùng gây thiệt hại” là trách nhiệm liên đới bồi thường của những người cùng gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại.

có thể xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

– Nhiều người gây thiệt hại cho một người

– Nhiều người gây thiệt hại cho nhiều người

Cùng gây thiệt hại được hiểu là:

Những người gây thiệt hại thống nhất với nhau về mặt ý chí, cùng chí hướng, cùng mục đích gây thiệt hại cho người khác, mỗi người trong số họ thực hiện hành vi khác nhau nhưng cùng mục đích gây ra thiệt hại.

Những người gây ra thiệt hại có sự thống nhất về hành vi, tồn tại hành vi gây thiệt hại của nhiều người, hành vi của nhiều người cùng gây thiệt hại không cần có yếu tố thống nhất về mặt ý chí, mà chỉ có sự thống nhất do cùng có hành vi gây thiệt hại gây ra.

Có sự thỏa thuận hoặc không có sự thỏa thuận với nhau về mặt hậu quả, người thực hiện hành vi gây thiệt hại không có chủ đích, không cố ý nhưng do hành vi vô ý của họ mà đã dẫn đến thiệt hại cho người khác => Những người có hành vi vô ý liên đới chịu trách nhiệm.

Khi nhiều người cùng thực hiện hành vi gây thiệt hại thì tất cả những người đó đều có lỗi trong khi thực hiện hành vi của mình, trong đó có người không có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình thì họ không bị coi là có lỗi và không phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

=> “cùng gây thiệt hại” được hiểu là tổng hợp hành vi của nhiều người diễn ra dưới dạng khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên kết, tương hỗ và cùng gây ra thiệt hại cho đối tượng bị thiệt hại. Do đó, một thiệt hại do nhiều người cùng gây ra thì họ phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại khi bên gây thiệt hại gồm có nhiều người và họ cùng gây thiệt hại.

Ví dụ: 2 người đang chơi đùa, xô đẩy lẫn nhau làm một người đi ngang qua bị gãy tay, lúc này 2 người liên đới chịu trách nhiệm về xâm phạm sức khỏe.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Điểm giống nhau:

– Hai loại hợp đồng này đều được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, đáp ứng điều kiện mà một hợp đồng dân sự phải có.

– Hợp đồng mua bán và hợp đồng gia công đều là sự thỏa thuận giữa các bên, các bên thực hiện nghĩa vụ giao kết trong hợp đồng.

– Đồng thời, hợp đồng mua bán và hợp đồng gia công đều là hợp đồng song vụ và là hợp đồng có đền bù.

Điểm khác nhau:

Tiêu chí

HĐ mua bán

HĐ gia công

Đối tượng

Tài sản được quy định tại BLDS đều có thể là đối tượng của hợp đồng mua bán. Trường hợp theo quy định của luật, tài sản bị cấm hoặc bị hạn chế chuyển nhượng thì tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán phải phù hợp với các quy định đó.

Tài sản bán thuộc sở hữu của người bán hoặc người bán có quyền bán.

Đối tượng của hợp đồng gia công là vật được xác định trước theo mẫu, theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Bản chất

Hợp đồng mua bán tài sản là hợp đồng nhằm mục đích chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản từ bên bán sang bên mua

Đây là căn cứ kế tục quyền sở hữu tài sản.

Hợp đồng gia công có kết quả được vật thể hóa

Vật được xác định trước theo mẫu, theo 1 tiêu chuẩn do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định trước. Vật mẫu hay tiêu chuẩn của vật gia công chỉ được hiện thực hóa (vật chất hóa hay trở thành hàng hóa) sau khi bên nhận gia công đã hoàn thành công việc gia công.

Hình thức HĐ

Hợp đồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản

Phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

Nội dung

Các điều khoản do các bên thỏa thuận.

Các điều khoản do các bên thỏa thuận, quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng gia công.

Chủ thể

Mọi tổ chức, cá nhân đầy đủ năng lực, có nhu cầu mua bán tài sản đều có thể là chủ thể của hợp đồng mua bán tài sản.

Bên nhận gia công và bên đặt gia công. Bên nhận gia công phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh để thực hiện hoạt động gia công, còn bên đặt gia công có thể là thương nhân hoặc không phải là thương nhân.

Lời giải

Thứ nhất, về nội dung của quan hệ:

Nội dung của chuyển giao nghĩa vụ là sự dịch chuyển nghĩa vụ dân sự từ người có nghĩa vụ cho người thứ ba, còn thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba là hành vi của người thứ ba, đại diện cho người có nghĩa vụ để thực hiện nghĩa vụ đó trước bên có quyền.

Thứ hai, về tư cách tham gia và thực hiện quan hệ của người thứ ba:

Tại Khoản 2, Điều 370 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

“Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.

Như vậy, trong trường hợp chuyển giao nghĩa vụ thì người thứ ba trở thành người có nghĩa vụ gọi là người thế nghĩa vụ.

Trong khi đó, đối với trường hợp thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba:

“Bên có nghĩa vụ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mình thực hiện nghĩa vụ dân sự” (trích Điều 283, Bộ luật dân sự 2015)

Nên ở đây người thứ ba chỉ nhân danh người có nghĩa vụ để thực hiện trước người có quyền theo sự ủy quyền của người có nghĩa vụ.

Thứ ba, về phạm vi thực hiện nghĩa vụ:

Đối với chuyển giao nghĩa vụ, vì “người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ” nên phạm vi nghĩa vụ là toàn bộ nghĩa vụ mà người này đã nhận.

Còn trong thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba, do người thứ ba chỉ nhân danh người có nghĩa vụ để thực hiện trước người có quyền theo sự ủy quyền của người có nghĩa vụ nên theo đó người thứ ba chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi ủy quyền.

Thứ tư, về sự ràng buộc nghĩa vụ:

Khi nghĩa vụ đã được chuyển giao thì quan hệ nghĩa vụ giữa người có quyền và người có nghĩa vụ chấm dứt; phát sinh quan hệ nghĩa vụ giữa người thế nghĩa vụ với bên có quyền. Do vậy, người thế nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ và chịu trách nhiệm trước bên có quyền nếu không thực hiện nghĩa vụ đó.

Trong thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba, người có nghĩa vụ vẫn là chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ nên:

“Vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền, nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự” (trích Điều 283, Bộ luật dân sự 2015).

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP