khoahoc.vietjack.com
Xin chào! Vào học

Câu hỏi:

06/11/2026 11 Lưu

Chị Hương có thói quen tập thể dục trong vòng 40 phút vào mỗi buổi sáng để rèn luyện sức khỏe. Chị kết hợp giữa tập thể dục nhịp điệu (tiêu hao 11 calo mỗi phút) và tập giãn cơ (tiêu hao 4 calo mỗi phút). Mục tiêu của chị là cần đốt cháy 335 calo cho một buổi sáng tập luyện. Hỏi chị Hương cần tập thể dục nhịp điệu bao nhiêu phút trong một buổi sáng?

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Gọi \(x,\,\,y\) (phút) lần lượt là thời gian chị Hương tập thể dục nhịp điệu và tập giãn cơ trong một buổi sáng \(\left( {0 < x < 40,\,\,\,0 < y < 40} \right)\).

Tổng thời gian tập là \(40\) phút nên \(x + y = 40\) (1).

Số calo tiêu hao là \(335\) calo nên \(11x + 4y = 335\) (2).

Từ (1) và (2) ta có hệ phương trình: \(\left\{ \begin{array}{l}x + y = 40\\11x + 4y = 335\end{array} \right.\).

Từ (1) suy ra \(y = 40 - x\), thế vào (2) ta được:

\[11x + 4\left( {40 - x} \right) = 335\] suy ra \[7x + 160 = 335\] suy ra \[7x = 175\] suy ra \[x = 25\] (thỏa mãn).

Suy ra \(y = 40 - 25 = 15\) (thỏa mãn).

Vậy chị Hương cần tập thể dục nhịp điệu \(25\) phút trong một buổi sáng.

Đang tải chế độ Học...

Hot: 1000+ đề thi cuối kì 1 lớp 1-12 đầy đủ các môn (Update 2026) (chỉ từ 60k). Tải ngay

ĐẶC QUYỀN VIP

Đăng ký VIP để học và luyện thi không giới hạn

Trọn bộ quyền lợi trên Vietjack, trong một tài khoản.

  • Phòng luyện thi cấp tốc: ĐGNL - ĐGTD, Tốt nghiệp THPT, Ôn vào 10, Ôn vào 6, Ôn Giữa kì/Cuối kì
  • Hơn 200K đề thi thử, đề minh hoạ, chính thức các năm
  • Với 3tr+ câu hỏi theo các mức độ Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng
  • Tải xuống đề thi [DOCX] với đầy đủ đáp án
  • Xem hàng ngàn bài giảng đính kèm củng cố thêm kiến thức
  • Bao gồm tất cả các bậc từ Tiểu học đến Đại học
  • Chặn hiển thị quảng cáo tăng khả năng tập trung ôn luyện
  • Đăng ký ngay

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Tương tự, tam giác \(AFC\) vuông tại \(F\) có: (ảnh 1)

a) Gọi \(O\) là trung điểm của \(AH\). Suy ra \(OA = OH = \frac{1}{2}AH\).

Vì \(BE \bot AC\) tại \(E\) nên \({\rm{\Delta }}AEH\) vuông tại \(E\), có \(EO\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền nên \(EO = \frac{{AH}}{2}\) (đường trung tuyến ứng với cạnh huyền thì bằng một nửa cạnh huyền) (1).

Vì \(CF \bot AB\) tại \(F\) nên \({\rm{\Delta }}AFH\) vuông tại \(F\), có \(FO\) là đường trung tuyến ứng với cạnh huyền nên \(FO = \frac{{AH}}{2}\) (đường trung tuyến ứng với cạnh huyền thì bằng một nửa cạnh huyền) (2).

Từ (1) và (2) suy ra \(OA = OH = OE = OF = \frac{{AH}}{2}\).

Vậy bốn điểm \(A,\,\,E,\,\,H,\,\,F\) cùng thuộc đường tròn tâm \(O\), bán kính \(R = \frac{{AH}}{2}\) (đường tròn đường kính \(AH\)).

Trong đường tròn này, \(EF\) là một dây, \(AH\) là đường kính nên \(EF \le AH\).

Nếu \(EF = AH\) thì \(EF\) là đường kính, khi đó \(\widehat {EAF} = 90^\circ \), trái với giả thiết \(\Delta ABC\) nhọn.

Vậy \(EF < AH\).

b)

Tương tự, tam giác \(AFC\) vuông tại \(F\) có: (ảnh 2)

Xét \({\rm{\Delta }}AEB\) và \({\rm{\Delta }}AFC\) có: \(\widehat {AEB} = \widehat {AFC} = 90^\circ \) và \(\widehat {BAC}\) là góc chung.

Suy ra ΔAEB∽ΔAFC (g.g), do đó \(\frac{{AE}}{{AF}} = \frac{{AB}}{{AC}}\) suy ra \(AE \cdot AC = AF \cdot AB\).

Từ \(AE \cdot AC = AF \cdot AB\) suy ra \(\frac{{AE}}{{AB}} = \frac{{AF}}{{AC}}\).

Xét \({\rm{\Delta }}AEF\) và \({\rm{\Delta }}ABC\) có: \(\frac{{AE}}{{AB}} = \frac{{AF}}{{AC}}\), \(\widehat {BAC}\) là chung.

Suy ra ΔAEF∽ΔABC (c.g.c), do đó \(\widehat {AEF} = \widehat {ABC}\) và \(\widehat {AFE} = \widehat {ACB}\).

Vì \(H\) là trực tâm tam giác \(ABC\) (giao của hai đường cao \(BE\) và \(CF\)) nên \(AJ \bot BC\).

\(\Delta ABJ\) vuông tại \(J\) nên \(\widehat {FAH} = \widehat {BAJ} = 90^\circ  - \widehat {ABC}\) (3).

Gọi \(K\) là giao điểm của \(AD\) và \(EF\), ta có \(AK \bot EF\).

\(\Delta AEF\) có \(\widehat {AEF} = \widehat {ABC}\) và \(\widehat {AFE} = \widehat {ACB}\) đều là góc nhọn nên \(K\) nằm giữa \(E\) và \(F\).

Tam giác \(AKE\) vuông tại \(K\) nên ta có:

\(\widehat {DAE} = \widehat {KAE} = 90^\circ  - \widehat {AEK} = 90^\circ  - \widehat {AEF} = 90^\circ  - \widehat {ABC}\) (4).

Từ (3) và (4) suy ra \(\widehat {FAH} = \widehat {DAE}\).

c) \(\Delta ABE\) vuông tại \(E\) có:

\(AE = AB \cdot \cos \widehat {BAC} = AB \cdot \cos 60^\circ  = \frac{{AB}}{2}\), suy ra \(\frac{{AE}}{{AB}} = \frac{1}{2}\).

Vì ΔAEF∽ΔABC nên \(\frac{{EF}}{{BC}} = \frac{{AE}}{{AB}} = \frac{1}{2}\), suy ra \(EF = \frac{{BC}}{2} = \frac{{10}}{2} = 5\).

Tương tự, tam giác \(AFC\) vuông tại \(F\) có:

\(AF = AC \cdot \cos 60^\circ  = \frac{{AC}}{2}\), suy ra \(\frac{{AC}}{{AF}} = 2\).

Xét \({\rm{\Delta }}ADC\) và \({\rm{\Delta }}AIF\) có:

\(\widehat {DAC} = \widehat {IAF}\) (vì \(\widehat {DAE} = \widehat {FAH}\) theo câu b);

\(\widehat {ACD} = \widehat {AFI}\) (vì \(\widehat {ACB} = \widehat {AFE}\)).

Suy ra ΔADC∽ΔAIF (g.g) với tỉ số đồng dạng \(k = \frac{{AC}}{{AF}} = 2\).

Vậy \(\frac{{{S_{{\rm{\Delta }}ADC}}}}{{{S_{{\rm{\Delta }}AIF}}}} = {k^2} = 4\).

Lời giải

a) \(12\) cabin được bố trí đều trên đường tròn nên chia đường tròn thành \(12\) cung bằng nhau.

Số đo cung giữa hai cabin gần nhau nhất là: \(\frac{{360^\circ }}{{12}} = 30^\circ \).

b)

Diện tích miếng đất hình chữ n (ảnh 2)

Gọi \(O\) là tâm vòng quay, \(A\) là vị trí cabin của bạn Hải khi lên điểm cao nhất, \(B\) là vị trí cabin của bạn Nam.

Hai cabin kề nhau nên \(\widehat {AOB} = 30^\circ \).

Kẻ \(BK \bot OA\) tại \(K\).

Tam giác \(OBK\) vuông tại \(K\) có \(OK = OB \cdot \cos \widehat {BOK} = 75 \cdot \cos 30^\circ  = \frac{{75\sqrt 3 }}{2}\) (m).

Tâm \(O\) ở độ cao \(90{\rm{\;m}}\) nên độ cao của bạn Nam là: \(90 + \frac{{75\sqrt 3 }}{2} \approx 154,95\) (m).

Vậy khi bạn Hải lên độ cao cao nhất thì bạn Nam đang ở độ cao khoảng \(154,95\) m.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP