khoahoc.vietjack.com

Danh sách câu hỏi tự luận ( Có 614,725 câu hỏi trên 12,295 trang )

Công ty ABC của Việt Nam chào hàng để bán một số túi da cho công ty DEF của Nhật Bản. Chào hàng ghi rõ có hiệu lực trong vòng 15 ngày từ thời điểm gửi đi (ngày 5/1/2007). Nhận được chào hàng này vào ngày 10/1/ 2007, công ty DEF chấp nhận các điều kiện của chào hàng, chỉ thay đổi nội dung liên quan giải quyết tranh chấp là trọng tài của Phòng Thương Mại Quốc Tế (ICC). Áp dụng quy định của công ước Vienna (1980) & bộ luật Dân sự Việt Nam (2005). Hỏi: Câu 1. Trả lời của DEF có được xem là một chấp nhận chào hàng hay không? Câu 2. Giả sử trả lời của DEF là một chấp nhận chào hàng nhưng ABC lại nhận được vào ngày 28/1 thì đây có phải là chấp nhận chào hàng không? Câu 3. Giả sử trả lời của DEF là chấp nhận chào hàng thì hợp đồng được ký vào ngày nào? Câu 3. Giả sử trả lời của DEF là chấp nhận chào hàng thì hợp đồng được ký vào ngày 10/01/2007. Theo điều 23, công ước Vienna 1980: Hợp đồng được coi là đã ký kết kể từ lúc sự chấp nhận chào hàng có hiệu lực. Ngày 10/1 DEF nhận được chào hàng và chấp nhận chào hàng, tức ngày 10/1 chào hàng có hiệu lực, hợp đồng được coi là đã ký kết.  

Xem chi tiết 57 lượt xem 2 tuần trước

Công ty TNHH Vui Vẻ có 4 thành viên với số vốn điều lệ là 10 tỷ đồng. Trong đó, ông A góp 4 tỷ đồng, ông B, bà C, ông D mỗi người góp 2 tỷ đồng. Theo điều lệ của công ty A là giám đốc kiêm chủ tịch hội đồng thành viên. A muốn triệu tập cuộc họp để thống nhất phương án phân chia lợi nhuận. Ngày 15/12/2013, thông báo triệu tập cuộc họp được gửi tới cho tất cả các thành viên nhưng do mâu thuẫn với A nên B không đến tham dự họp. Cùng thời điểm này, bà C bận công tác xa nên gọi điện báo vắng mặt và ủy quyền miệng nhờ A bỏ phiếu cho mình. Cuộc họp hội đồng thành viên sau đó đã diễn ra vào ngày 20/12 với sự có mặt của A và D. Cuộc họp thông qua phương án và kế hoạch kinh doanh cho năm sau. Sau cuộc họp B không đồng ý và gửi đơn đến các thành viên để phản đối. Trước tình hình đó A quyết định triệu tập họp hội đồng thành viên mà không mời B tham dự để ra quyết định khai trừ B. Ngày 30/12, cuộc họp hội đồng thành viên diễn ra với sự có mặt của A, C và D. Cả 3 thành viên dự họp đều bỏ phiếu nhất trí khai trừ B. Giả sử điều lệ công ty không có quyết định khác. Câu 1: Cuộc họp hội đồng thành viên ngày 20/12 có hợp lệ không? Câu 2: Quyết định khai trừ B tại cuộc họp ngày 30/12 có hiệu lực không? Câu 3: Nêu phương hướng giải quyết cho tình huống trên?  

Xem chi tiết 61 lượt xem 2 tuần trước

Ngày 10/6/2013, giữa người bán Singapore (NB) và người mua Việt Nam (NM) ký hợp đồng 9623/INUT13, the đó NB bán cho NM 9937kg Cà phê và bột kèm theo điều kiện CIF cảng HCM, thanh toán bằng chuyển tiền vào tài khoản của NB tại Singapore trong vòng 7 ngày sau khi NM nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưởng lợi là NB. Thực hiện hợp đồng, NB đã giao hàng cho người mua ngày 21/6/2013. Sau khi giao hàng, NB đã chuyển giao cho NM vận đơn gốc và hóa đơn thương mai số 059/13 đề ngày 21/6/2013 đòi tiền hàng, nhưng cuối cùng NB vẫn không nhận được tiền hàng. Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, NB đã khởi kiện NM ra trọng tài đòi NM phải trả các khoản tiền sau: Tiền hàng Tiền lãi của ngân hàng từ ngày 21/6/2013 đến ngày nhận được tiền thanh toán. Phí tư vấn pháp lý, phí dịch thuật, phí liên lạc điện thoại và fax. Trong văn thư phản bác đơn kiện, NM đã trình bày: Ngày 10/6/2013, NM đã ký hợp đồng số 9623/INUT13 với NB để nhập khẩu ủy thác cho cửa hàng A. Theo biên bản thỏa thuận riêng (không đề cập trong hợp đồng) ngày 10/6/2013 giữa ba bên (NM, NB, cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toàn tiền hàng cho NB là cửa hàng A, cho nên NB không có quyền kiện NM trả tiền hàng. Câu hỏi: Phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?  

Xem chi tiết 44 lượt xem 2 tuần trước

Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là hai đối tác quen thuộc trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của hai bên vào ngày 10/1/2017 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau: A: Chúng tôi hiện đang có một lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cấp loại 1, giá 850USD/tấn giao tại cảng Singapore B: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng giá 850USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750USD/tấn. A: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh giá 800USD/tấn B: Chúng tôi sẽ mở L/C cho các canh trong tháng này và rất mong anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới. A: Chúng tôi đồng ý. Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống còn 650USD/tấn, A gửi thông bác giao hàng cho bên B, bên B không có ý kiến gì. A tiến hành gửi hàng nhưng B đã không đưa tàu đến nhận hàng, A phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo L/C do đó cũng không được thanh toán. A đã kiện B ra tòa trọng tài ICC, yêu cầu bên B nhận hàng và bồi thường cho bên A: - Chi phí lưu kho do B đã không nhận hàng đúng thời hạn - Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà A đã đóng - Số tiền lãi theo giá trị của đơn hang tính từ khi A giao hàng đến khi B thực thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của A Do không nhận được tiền hàng A không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. A yêu cầu B bồi thường về thiệt hại uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C. Bên B kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: Theo các hợp đồng đã ký kết trước đây giữa 2 bên, hai bên luôn thỏa thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.  Trong trường hợp này, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm các bên. Bên B không có nghĩa vụ phải nhận hàng. Câu hỏi: Phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Xem chi tiết 38 lượt xem 2 tuần trước

Ngày 3/8/1997, Công ty A (Việt Nam) và công ty B (Hàn Quốc) ký hợp đồng mua bán theo đó A mua của B hai máy thêu trị giá 136.000USD theo điều kiện CIF Tân Cảng Thành phố Hồ Chí Minh, bảo hành 12 tháng sau khi hoàn thành lắp đặt. Thực hiện hợp đồng, ngày 16/8/1997, B đã giao hai máy thêu cho A, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, B đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công, B cam kết sẽ sửa chữa xong vào ngày 4/4/1998 và sẽ bồi thường 29.202USD cho 40 ngày máy dừng hoạt động nhưng sau đó B chỉ bồi thường 4.302USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa. A đã trường cầu SGS Việt Nam để giám định tình trạng hai máy thêu. Biên bản giám định ngày 1/9/1998 của SGS ghi “hai máy không thể sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của nguyên đơn”. Do máy ngừng hoạt động, A đòi B đổi hai máy mới và bồi thường thiệt hại phát sinh cho A. Ngày 18/4/1999, B thông báo với A việc tái giám định sẽ được tiến hành ngày 22 đến 28 tháng 4 năm 1999 bởi Vinacontrol có sự chứng kiến của luật sư đại diện bên B. A không phản đối. Ngày 28/4/1999, Vinacontrol cấp biên bản giám định số 095/1999G, trong đó kết luận máy bị hỏng hóc, tình trạng lắp ráp, căn chỉnh hai máy chưa hoàn tất, vào thời điểm giám định, cả hai máy đều không thể vận hành được, B chấp nhận đổi máy cho A. Ngày 4/5/1999, A kiện B ra trọng tài đòi: - Trả lại hai máy thêu, lấy lại tiền. - Bồi thường thiệt hại gồm: Chi phí nhân công trong thời gian máy dừng hoạt động Lãi suất trên số tiền hàng 136000USD kể từ ngày thanh toán đến ngày trọng tài xét xử. Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam Thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần Câu hỏi: Phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Xem chi tiết 53 lượt xem 2 tuần trước

Công ty A (NB) và công ty B (NM) ký kết hợp đồng mua bán quặng Niken vào 1/11/2013 quy định ngày giao hàng chậm nhất là 15/2/2014, tại cảng của nước NM, NB là người thuê tàu và có nghĩa vụ thông báo thời gian tàu cập bến. Trước đó ngày 1/1/2013, chính phủ nước NM đưa ra dự thảo danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu trong đó có quặng Niken. Diễn biến sự việc: - Ngày 12/2/2014, tàu cập cảng, NB thông báo cho NM để NM nhận hàng. - Ngày 1/1/2014, chính phủ nước NM ra lệnh cấm nhập khẩu quặng Niken. - NM đã không nhận hàng từ phía NB, khiến NB phải lưu khoang hàng hóa đến ngày 25/2/2014 và sau đó phải bán lại lô hàng trên cho công ty C tại nước lân cận nước NM với giá thấp hơn. - NB kiện NM ra tòa trọng tài ICC và yêu cầu NM bồi thường thiệt hại bao gồm: Chi phí lưu khoang 13 ngày Chi phí chuyển tải và vận chuyển hàng hóa đến cảng nước công ty C Chênh lệch giá bán giữa hợp đồng với giá bán cho công ty C. NM cho rằng mình không thể nhận hàng là bất khả kháng do lệnh cấm nhập khẩu của chính phủ đưa ra sau khi kí kết hợp đồng, và yêu cầu được miễn trách trong trường hợp này. ICC đã tiếp nhận đơn kiện của NB, tuy nhiên trong quá trình xét xử, công ty NM phá sản và tuyên bố giải thể, tên của công ty sau đó bị xóa khỏi Sổ đăng ký kinh doanh. Câu hỏi: Trường hợp này NM có được miễn trách hay không? Việc pháp nhân (NM) không còn tồn tại có giải phóng các nghĩa vụ của người mua đối với phán quyết của trọng tài hay không? Kết quả của bản án như thế nào? Giải thích?

Xem chi tiết 50 lượt xem 2 tuần trước

Người mua A kí kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày nam với người bán B, yêu cầu người bán B cung cấp giày do Hãng C sản xuất. Ngay sau khi kí kết hợp đồng người bán B đã kí kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày của hãng C. Đến ngày giao hàng của người bán B, công ty C chỉ giao được 90.000 đôi giày do không kịp nhập nguyên liệu sản xuất. Do vậy người bán B cũng chỉ giao được 90.000 đôi giày nam cho người mua A. Bên A kiện B ra trọng tài thương mại, yêu cầu B nộp phạt vi phạm 2% trị giá hàng giao chậm như đã thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên B bồi thường về việc uy tín thương mại bị giảm sút, với lý do, bên B giao thiếu hàng nên bên A đã không thể giao hàng cho khách của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của đối tác A do mặt hàng giày là mặt hàng có tính thời vụ. Bên B kháng cáo và lập luận rằng, do bên A yêu cầu cụ thể trong hợp đồng là mua giày của hãng C sản xuất nên bên B không thể tìm được nguồn hàng khác thay thế. Vì vậy, việc B không thể giao hàng là bất khả kháng và B được miễn trách nhiệm trong trường hợp này. Câu hỏi: Phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?  

Xem chi tiết 47 lượt xem 2 tuần trước

Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) kí kết hợp đồng mua bán: Tên hàng: Thép Thanh Số lượng: 80.000 tấn Giá: 350USD/tấn chưa bao gồm cước vận chuyển Thời gian giao hàng: từ ngày 15/6/2016 đến 15/12/2016 Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua đế 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15/10/2016 Diễn biến sự việc: Ngày 1/10/2016, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt, nâng số hàng muốn mua lên 160.000 tấn. Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua them so với hợp đồng. NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị người bán thực hiện giao hàng đúng như giá thỏa thuận trong hợp đồng. Ngày 15/12/2016, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạnh NB đã vi phạm hợp đồng và gia hạn cho NB đến 30/12/2016. Ngày 5/1/2017, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380USD/tấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5USD/tấn) để phục vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán số tiền chênh lệch 2.400.000 USD. NB không đồng ý với các lý do sau:- Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB.- Khi NM đàm phán về việc tăng giá bán thép, NB đã đưa ra mức giá 376USD/tấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế. Việc NM không mua thép của NB là một điều vô lý. Câu hỏi: Phán quyết của Trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Xem chi tiết 53 lượt xem 2 tuần trước