Câu hỏi:

29/12/2025 162 Lưu

5.1.  Hiện nay, virus được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, như chế tạo vaccine, sản xuất các loại thuốc trừ sâu, sử dụng virus làm vector trong công nghệ di truyền… Để chuyển gene vào động vật, các nhà khoa học có thể sử dụng thể truyền là retrovirus. Nêu ưu điểm và nhược điểm chính của loại thể truyền này.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

-  Ưu điểm: Virus có thể tích hợp và chèn vào NST của người, nếu virus mang gene cần chuyển thì nó sẽ giúp gene đó chèn vào NST của người bệnh.

-  Nhược điểm:

+ Do virus chèn ngẫu nhiên vào NST nên xác suất gene cần chuyển được chèn đúng vị trí trên NST rất thấp -> gene cần chuyển không được biểu hiện, hoặc biểu hiện không đúng vị trí, không đúng thời điểm

+ Do virus chèn gene ngẫu nhiên vào NST -> có thể gây đứt gẫy các gene khác hoặc chèn vào giữa và gây hỏng gene bình thường của người -> gây đột biến mới.

+ Thể truyền có bản chất virus nên tiềm ẩn nhiều nguy cơ về an toàn sinh học như khả năng gây bệnh hoặc trong cơ thể chủ các chủng virus xảy ra sự trao đổi vật chất di truyền -> hình thành nên các chủng gây bệnh mới.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

.- Giai đoạn có van nhĩ thất mở tương ứng với giai đoạn (4).

-  Tâm thất giãn, áp lực trong tâm thất giảm xuống thấp hơn tâm nhĩ làm van nhĩ thất mở, máu chảy từ tâm nhĩ xuống tâm thất làm áp lực trong tâm nhĩ giảm xuống.

b.- Giai đoạn có van bán nguyệt mở là giai đoạn (2).

-  Tâm thất co, áp lực trong tâm thất cao hơn trong động mạch chủ làm mở van bán nguyệt giữa tâm thất và động mạch chủ, máu được tống tử tâm thất vào động mạch chủ, áp lực trong động mạch chủ tăng.

c.- Giai đoạn có cả van nhĩ thất và van bán nguyệt đều đóng tương ứng với hai giai đoạn (1) và (3).

-  Giai đoạn (1) tâm thất co áp lực máu trong tâm thất lớn hơn trong tâm nhĩ làm đóng van nhĩ thất, tuy nhiên áp lực trong tâm thất còn thấp hơn trong động mạch chủ nên van bán nguyệt đóng. Giai đoạn (3) tâm thất giãn áp lực thấp hơn trong động mạch chủ làm máu dồn trở lại động mạch chủ đóng van bán nguyệt, tuy nhiên áp lực trong tâm thất cao hơn trong tâm nhĩ nên van nhĩ thất đóng.

d.- Giai đoạn có thể tích máu trong tâm thất thấp nhất là giai đoạn (3).

-  Sau khi kết thúc tống máu ở giai đoạn (2), tâm thất giãn ở giai đoạn (3): Tâm thất giãn thể tích máu còn lại trong tâm thất là thấp nhất và không đổi, áp lực trong tâm thất giảm. Giai đoạn (4) van nhĩ thất mở, máu từ tâm nhĩ vào tâm thất làm thể tích máu tâm thất tăng.

Lời giải

a.

-  Tại thời điểm t2 = 0,2 (s) van nhĩ thất đóng, van động mạch chủ đóng. Vì tại thời điểm này áp lực tâm nhĩ giảm, áp lực tâm thất đang tăng nhưng chưa đạt mức cao nhất, chứng tỏ lúc này tâm nhĩ giãn, tâm thất đang co. Tâm thất co làm tăng áp lực máu trong tâm thất, làm đóng van nhĩ thất, tuy nhiên áp lực này chưa đủ để làm mở van động mạch chủ.

-  Tại thời điểm t3 = 0,3 (s) van nhĩ thất đóng, van động mạch chủ mở. Vì tại thời điểm này áp lực tâm thất và áp lực cung động mạch chủ đạt cao nhất và có giá trị bằng nhau, chứng tỏ lúc này áp lực máu ở tâm thất cao đủ để làm mở van động mạch chủ, máu từ tâm thất được đẩy lên động mạch. Do tâm thất co nên làm đóng van nhĩ thất.

b.

-  Người này bị bệnh hẹp van tổ chim ở động mạch chủ.

-  Vì áp suất tâm thất trái cao thì huyết áp trong động mạch chủ phải cao gần tương đương.