khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

18/04/2026 192 Lưu

Hoạt động lao động của con người được coi là hoạt động lao động khi hội tụ đủ các đặc trưng cơ bản nào? Giải thích các đặc trưng đó.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Hoạt động lao động của con người được coi là hoạt động lao động khi hội tụ đủ các đặc trưng cơ bản:

Tính mục đích: hoạt động phải do con người tự giác thực hiện với mục tiêu xác định.

Tính tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần: kết quả của hoạt động lao động phải phục vụ nhu cầu của con người.

Tính tác động vào tự nhiên và xã hội: hoạt động của con người phải biến đổi tự nhiên hoặc xã hội nhằm đạt mục đích.

Giải thích:

Nếu một hoạt động không có mục đích thì chỉ là hoạt động sinh tồn hay vận động cơ thể, chưa phải là lao động.

Nếu hoạt động không tạo ra sản phẩm, không phục vụ nhu cầu con người thì chưa được coi là lao động.

Nếu hoạt động không tác động vào tự nhiên, xã hội để biến đổi môi trường nhằm đạt mục đích thì cũng không phải là lao động.

Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động.

Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người.

Hoạt động lao động có 3 đặc trưng cơ bản:

Xét về tính chất: hoạt động lao động phải có mục đích (có ý thức) của con người.

Đặc trưng này chỉ ra sự khác biệt giữa hoạt động lao động của con người và hoạt động có tính bản năng của con vật.

Con vật duy trì sự tồn tại của mình dựa vào những sản vật có sẵn trong tự nhiên, còn con người dùng sức lao động của bản thân để tạo ra những sản phẩm cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình cũng như của cộng đồng xã hội.

Xét về mục đích: hoạt động đó phải tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người.

Điều này phân biệt với những hoạt động có mục đích không nhằm thỏa mãn nhu cầu chính đáng của con người, không nhằm phục vụ cho con người hay sự tiến bộ của xã hội.

Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.

Xét về mặt nội dung: hoạt động của con người phải là sự tác động vào tự nhiên làm biến đổi tự nhiên và xã hội nhằm tạo ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ lợi ích của con người.

Điều này phân biệt với các hoạt động không tạo ra sản phẩm (vật chất và tinh thần), hoặc các hoạt động mang tính chất phá hoại tự nhiên. Những hoạt động đó không thể gọi là hoạt động lao động.

Ngày nay, hoạt động lao động được quan niệm không chỉ là khai thác tự nhiên mà còn song song với nó là sự bồi đắp, bảo tồn tự nhiên.

Đến đây, có thể thấy được sự khác nhau cơ bản giữa khái niệm sức lao động và lao động:

Nói đến sức lao động là nói đến khả năng lao động.

Nói đến lao động là nói đến hành động đang diễn ra.

Như vậy, để biến khả năng lao động (sức lao động) thành hiện thực (lao động) cần phải có những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất, điều kiện con người, môi trường xã hội...), mà thiếu những điều kiện này, quá trình lao động không thể diễn ra được.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

Lao động: là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu của con người, dựa theo không gian và thời gian.

Sức lao động: là khả năng lao động của con người, là tổng hợp thể lực và trí lực của con người, được con người vận dụng trong quá trình lao động.

Các chỉ tiêu đánh giá sức lao động:

Thể chất: sức khỏe, chiều cao, cân nặng, cơ bắp,...

Trí lực: trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm công tác,...

Tâm lực: thái độ làm việc, năng lực phẩm chất, khả năng thích ứng, tinh thần trách nhiệm,...

Sự khác nhau cơ bản giữa sức lao động và lao động:

Sức lao động là khả năng lao động, lao động là hành động đang diễn ra.

Mối quan hệ: Sức lao động là điều kiện để lao động xảy ra; để biến sức lao động thành lao động, cần có các điều kiện về vật chất, con người và môi trường xã hội.

Phần 2: Nguồn nhân lực và phân bổ NNL

Lời giải

Khái niệm:

Chuyển dịch cơ cấu lao động: sự vận động, chuyển hóa từ cơ cấu lao động này (cũ) sang cơ cấu lao động kia (mới) phù hợp với quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Cơ cấu kinh tế: tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ, tương tác qua lại về số lượng và chất lượng trong điều kiện không gian và kinh tế-xã hội nhất định.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: quá trình thay đổi cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác, ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển.

Là quá trình thay đổi tỷ trọng và chất lượng lao động vào các ngành, vùng khác nhau.

Chuyển dịch cơ cấu lao động theo xu hướng tiến bộ nhằm sử dụng đầy đủ và hiệu quả nguồn nhân lực để phát triển kinh tế.

Tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến cơ cấu lao động:

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quyết định chuyển dịch cơ cấu lao động.

Cơ cấu kinh tế biểu hiện tập trung nhất ở tỷ trọng tổng sản phẩm trong nước (GDP) do từng ngành, từng vùng sản xuất ra.

Khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra, định hướng cho thay đổi cơ cấu lao động.

Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh sự phát triển của KH-CN, lực lượng sản xuất, phân công lao động chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất → hướng dẫn thay đổi cơ cấu lao động.

Tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến cơ cấu kinh tế:

Cơ cấu lao động tác động trực tiếp đến cơ cấu kinh tế.

Có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế tùy chất lượng và phân bố lao động.

Tác động của cơ cấu lao động đến cơ cấu kinh tế:

Thúc đẩy: chất lượng nguồn lao động cao làm quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Kìm hãm: nếu chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm, chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng nhu cầu chuyển dịch sang ngành công nghiệp, dịch vụ có vốn đầu tư & công nghệ cao → gây trở ngại cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Liên hệ thực tiễn Việt Nam:

Các nghiên cứu thực tiễn cho thấy cơ cấu lao động phân bố theo ngành có quan hệ chặt chẽ với GDP bình quân đầu người.

Nếu GDP bình quân đầu người tăng → tỷ trọng lao động trong nông nghiệp giảm, tỷ trọng lao động trong công nghiệp, dịch vụ tăng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp → sự chuyển dịch rõ nhất:

Tỷ trọng GDP nhóm ngành nông, lâm nghiệp – thủy sản giảm.

Tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng.

Công nghiệp – xây dựng phát triển liên tục, chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (tăng từ 22,67% năm 1990 lên 40,31% năm 2004) → trở thành động lực và “đầu tàu” tăng trưởng nền kinh tế.

Cơ cấu lao động theo hướng tích cực:

Lao động nông, lâm nghiệp giảm từ 55,1% (2005) xuống 46,9% (2013).

Lao động công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tăng từ 44,9% lên 53,6%.

Lao động dịch vụ tăng đáng kể từ 27,1% lên 32%.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP