khoahoc.vietjack.com

Câu hỏi:

07/10/2026 24 Lưu

Thí sinh đọc Bài đọc 1 và trả lời các câu hỏi 1 – 10:

BÀI ĐỌC 1:

VẬT LIỆU NANO: LỢI ÍCH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ AN TOÀN (*)

[1] Trong lúc mọi người đang hân hoan về ứng dụng của vật liệu nano thì các nhà khoa học lại đặt ra câu hỏi rằng liệu vật liệu nano có an toàn không, nhất là khi nó hiện diện ở khắp mọi nơi. Một nguyên tắc bất di bất dịch của độc chất học là tất cả mọi thứ đều độc hoặc không độc, chính nồng độ và đường dùng của nó quyết định điều đó. Ví dụ, nước là một chất tưởng chừng cần thiết và vô hại, nếu ta uống 1,5-2 lít mỗi ngày là tốt cho sức khỏe nhưng nếu một người uống 10 lít nước thì sẽ bị ngộ độc chết.

[2] Bản chất vật liệu nano rất khác với vật liệu cùng loại kích cỡ lớn vì vật liệu nano có kích thước nhỏ, tỷ lệ của nhân so với bề mặt lớn hơn nhiều so với vật liệu cùng loại không nano; bên cạnh đó, khả năng vận chuyển và tạo hình của vật liệu nano cũng thay đổi, dẫn đến biến đổi tính chất vật lí, hoá học, quang học và sinh học.

[3] Vì thế, một số nhà khoa học đã bắt đầu xem xét về tính an toàn của chúng. Nghiên cứu của Poland và cộng sự (2008) trên Nature Nanotechnology là hồi chuông lớn nhất về độc tính của nano. Nghiên cứu này cho thấy sợi nano carbon đường kính 50 nanomet (nm), dài 100 micromet tạo ra khối u ở mô cơ hoành tương tự sợi Amiăng, tuy nhiên sợi carbon rối đường kính 15 nm thì không. Nguyên nhân là sợi carbon dài làm cho đại thực bào không tiêu được trong quá trình gọi là “thực bào chán nản”. Nhiều nghiên cứu sau đó cũng củng cố cho luận điểm một số sợi nano gây ra ung thư ở chuột giống với Amiăng.

[4] Sau đấy, các nước phát triển hiểu rằng họ không thể không quan tâm đến độc tính của các vật liệu nano và liên tục tài trợ cho các nghiên cứu về độc tính nano. Một số ví dụ điển hình về độc tính của vật liệu nano đã được công bố như: carbon dạng kim cương và dạng fullerenes gần như trơ, nhưng carbon đen hay ống nano carbon gây độc, phụ thuộc nồng độ, chiều dài hay dạng kết tụ. Thử nghiệm trên mô hình cá cho thấy tiểu phân nano bạc 10 nm hoặc 35 nm gây độc chết, nhưng độc tính giảm khi bọc citrate hoặc fulvic acid, silicat (SiO2) 15 nm gây hành vi giống bệnh Parkinson, còn silicat 50 năm thì độc tính giảm (cũng trên mô hình cá). Các kết quả nghiên cứu về nano cũng cho thấy mỗi loại vật liệu nano (tuy cùng chất, ví dụ cùng là nano bạc), nhưng tuỳ vào đặc điểm (kích thước, hình dạng, cấu trúc, chất bao phủ và cách chế tạo) là một “cá thể” riêng biệt với tính chất khác nhau. Không thể từ một cá thể này mà suy ra tính chất của cá thể khác.

[5] Quay lại chủ đề về nano bạc, một số nghiên cứu ủng hộ cho tác dụng của các loại nano bạc trong diệt khuẩn và virus: nano bạc 5 nm, 25 nm và 30 nm có khả năng tiêu diệt tế bào bị nhiễm herpesvirus và Epstein-Barr Virus; nano bạc 3,5 nm, 6,5 nm và 12,9 nm trộn lẫn với chitosan có khả năng diệt E. coli và cúm H1N1. Tất cả các nghiên cứu này đều chỉ là thử nghiệm trên tế bào, rất ít thử nghiệm trên động vật, còn thử nghiệm lâm sàng trên người thì hoàn toàn chưa có. Lưu ý là chưa có bất cứ nghiên cứu nào dùng nano bạc trị nCoV, SARS hay MERS. Còn về độc tính của nano bạc, chỉ cần tra cứu trong Pubmed (cơ sở dữ liệu các nghiên cứu của Hoa Kỳ) thì ra hơn 2.855 kết quả, có cả độc tính trên vết thương hở, hô hấp và tiêu hóa. Một số kết quả cụ thể như khi cho chuột cống trong thí nghiệm hít nano bạc 18 nm thì bị viêm phổi sau 90 ngày. Nghiên cứu của Kwon và cộng sự (2012) trên chuột nhắt cũng chứng minh rằng hít phải nano bạc 20 nm và 30 nm gây độc phổi cấp và dẫn tới việc nano bạc thâm nhập vào các cơ quan khác nhau; nano bạc 20 nm có khả năng gây độc gene trên dòng tế bào MERS. Nghiên cứu của Kwon và cộng sự (2012) trên chuột nhắt cũng chứng minh rằng hít phải nano bạc 20 nm và 30 nm gây độc phổi cấp và dẫn tới việc nano bạc thâm nhập vào các cơ quan khác nhau; nano bạc 20 nm có khả năng gây độc gene trên dòng tế bào gan HepG2.

[6] Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ không khuyến cáo dùng nano bạc đường uống, vì họ cũng không thể biết hết tác dụng của nano bạc trong cơ thể, dù là kích cỡ nào. Do đó, các sản phẩm có nano bạc mà nhiều người đang sử dụng trong phòng chống COVID-19 cần phải chứng minh rõ ràng các đặc điểm nano bạc như: kích thước, hình dạng, cách chế tạo, độ phân tán, lớp vỏ bao, thử nghiệm để chứng minh hiệu quả phòng chống COVID-19, mô hình thử nghiệm, thử nghiệm tính độc hại và an toàn của sản phẩm theo đường dùng, thử nghiệm lâm sàng.

[7] Trong y khoa, việc nghiên cứu phát triển các vật liệu nano để chế tạo các sản phẩm hỗ trợ chẩn đoán, điều trị bệnh và tăng cường giải phóng thuốc tới tế bào đích đang được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm. Mặc dù các sản phẩm nano từ hữu cơ đã được nhiều quốc gia chấp thuận sử dụng nhưng các tiểu phân nano vô cơ đa phần vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm trên động vật. Triển vọng của tiểu phân nano vào trị bệnh là rất lớn, tuy nhiên điều quan trọng cần quan tâm chính là độc tính của chúng. Liệu việc sử dụng chúng có an toàn trên người hay không luôn là câu hỏi được đặt ra và cần giải quyết thông qua các thử nghiệm từ động vật tới thử nghiệm lâm sàng.

(Nguồn: Trích từ bài báo của TS. Phạm Đức Hùng,

xuất bản trên tạp chí Khoa học và Đời sống, số 3 năm 2020)

(*) Nhan đề bài đọc do người biên soạn sách đặt.

Ý chính của bài đọc là gì?

A. Giới thiệu các nghiên cứu tiêu biểu về vật liệu nano trong y học.

B. Phân tích đặc điểm cấu trúc và ứng dụng của vật liệu nano.

C. Cảnh báo và bàn luận về độc tính cũng như mức độ an toàn của vật liệu nano.

D. Khẳng định tiềm năng vượt trội của vật liệu nano trong điều trị bệnh.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack

Phương pháp: đọc hiểu, suy luận.

Căn cứ và phân tích:

- Đoạn [1]: Đặt vấn đề về độ an toàn của vật liệu nano.

- Đoạn [3] – [5]: Dẫn chứng nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ gây độc, gây bệnh.

- Đoạn [6] – [7]: Nhấn mạnh cần thận trọng, kiểm chứng an toàn trước khi sử dụng.

→ Toàn văn xoay quanh mối quan hệ giữa tiềm năng và rủi ro, nên C là phương án bao quát nhất.

=> Chọn C.

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Hoàn thành câu hỏi bằng cách chọn đáp án Đúng hoặc Sai.

Việc tác giả đưa ra ví dụ uống nước ở đoạn 1 chủ yếu nhằm làm rõ độc tính của một chất phụ thuộc vào nồng độ và cách sử dụng.

Đúng hay sai?

Đúng.
Sai.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Giải thích: Ví dụ uống nước nhằm minh họa nguyên lí: Một chất có thể có lợi hoặc gây hại tùy vào liều lượng và cách sử dụng.

- Căn cứ: Đoạn [1]: “chính nồng độ và đường dùng của nó quyết định điều đó”.

→ Ví dụ có tính minh họa cho quy luật độc chất học → Đúng.

=> Chọn Đúng.

Câu 3:

Theo bài đọc, yếu tố nào sau đây không trực tiếp được nêu là nguyên nhân làm thay đổi tính chất của vật liệu nano?

A. Kích thước tiểu phân.

B. Tỷ lệ nhân so với bề mặt.

C. Khả năng vận chuyển và tạo hình.

D. Đường đưa vật liệu vào cơ thể.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Giải thích: Các yếu tố làm thay đổi tính chất vật liệu nano gồm:

+ Kích thước.

+ Tỷ lệ nhân/ bề mặt.

+ Khả năng vận chuyển, tạo hình.

- Căn cứ: Đoạn [2]: liệt kê rõ các yếu tố này.

→ “Đường đưa vào cơ thể” thuộc độc tính sinh học, không phải tính chất vật liệu → loại D.

=> Chọn D.

Câu 4:

Hoàn thành câu hỏi bằng cách chọn đáp án Đúng hoặc Sai.

Cụm từ “thực bào chán nản” trong đoạn 3 được dùng để chỉ hiện tượng đại thực bào bị tổn thương khi tiếp xúc với sợi carbon.

Đúng hay sai?

Đúng.
Sai.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Giải thích đúng: “Thực bào chán nản” là hiện tượng: Đại thực bào không thể tiêu hóa các sợi nano quá dài.

- Căn cứ: Đoạn [3]: “sợi carbon dài làm cho đại thực bào không tiêu được…”

→ Không phải là bị tổn thương, mà là bất lực trong việc phân hủy.

=> Chọn Sai.

Câu 5:

Từ đoạn 4, có thể rút ra kết luận nào sau đây?

A. Có thể suy đoán độc tính của một vật liệu nano từ vật liệu nano tương tự.

B. Các vật liệu nano cùng chất luôn có đặc tính giống nhau.

C. Mỗi vật liệu nano cần được đánh giá độc tính như một cá thể riêng biệt.

D. Độc tính của vật liệu nano chỉ phụ thuộc vào kích thước.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Kết luận rút ra: Mỗi vật liệu nano cần được đánh giá như một cá thể riêng.

- Căn cứ: Đoạn [4]: “Không thể từ một cá thể này mà suy ra tính chất của cá thể khác.”

→ Điều này phủ định các suy luận khái quát hóa → khẳng định tính cá thể hóa.

=> Chọn C.

Câu 6:

Những nhận định nào sau đây KHÔNG phù hợp với quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa kích thước tiểu phân nano và độc tính?

Chọn nhiều đáp án:

Kích thước càng lớn thì độc tính càng tăng.
Kích thước càng nhỏ thì độc tính càng giảm.
Không thể đánh giá độc tính chỉ dựa vào kích thước tiểu phân.
Kích thước không ảnh hưởng đến độc tính của vật liệu nano.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Phân tích: Đoạn [4] cho thấy độc tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố:

+ kích thước.

+ hình dạng.

+ cấu trúc.

+ lớp phủ…

- Vì vậy:

+ Đáp án 1 sai: không có quy luật “càng lớn càng độc”.

+ Đáp án 2 sai: không có quy luật “càng nhỏ càng ít độc”.

+ Đáp án 4 sai: kích thước có ảnh hưởng.

+ Đáp án 3 đúng: không thể đánh giá chỉ dựa vào kích thước

=> Chọn các đáp án:

- Kích thước càng lớn thì độc tính càng tăng.

- Kích thước càng nhỏ thì độc tính càng giảm.

- Kích thước không ảnh hưởng đến độc tính của vật liệu nano.

Câu 7:

Theo bài đọc, nhận định nào sau đây là đúng về khả năng diệt khuẩn và virus của nano bạc?

A. Nano bạc đã được chứng minh hiệu quả điều trị virus trên người.

B. Nano bạc cho thấy khả năng diệt khuẩn, virus chủ yếu trong thử nghiệm trên tế bào.

C. Nano bạc không có tác dụng diệt khuẩn và virus.

D. Nano bạc có thể tiêu diệt mọi loại vi khuẩn và virus.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Giải thích: Nano bạc:

+ Có khả năng diệt vi khuẩn, virus.

+ Nhưng chủ yếu mới được chứng minh trong phòng thí nghiệm.

- Căn cứ: Đoạn [5]: “chỉ là thử nghiệm trên tế bào… chưa có thử nghiệm lâm sàng”.

=> Chọn B.

Câu 8:

Loại nano bạc nào dưới đây gây hại đến phổi của động vật?

A. Nano bạc 50 năm.

B. Nano bạc 20 nm.

C. Nano bạc trộn lẫn chitosan.

D. Nano bạc bọc citrate.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

- Giải thích: Nano bạc gây hại phổi: Nano bạc 20 nm gây độc phổi cấp.

- Căn cứ: Đoạn [5]: nghiên cứu trên chuột cho thấy nano bạc 20 nm gây độc phổi.

=> Chọn B.

Câu 9:

Điền một cụm từ không quá ba tiếng vào chỗ trống để hoàn thành câu: Theo lập luận của tác giả, việc chưa xác định đầy đủ tác động và độ an toàn của _________ trong cơ thể người là lí do chính khiến FDA không khuyến cáo sử dụng nano bạc đường uống.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án:

1. nano bạc

- Giải thích: FDA không khuyến cáo sử dụng vì: Chưa hiểu rõ tác động của nano bạc trong cơ thể người.

- Căn cứ: Đoạn [6]: “không thể biết hết tác dụng của nano bạc trong cơ thể” → Từ cần điền là nano bạc.

- Đáp án: Điền từ: nano bạc.

Câu 10:

Từ thông tin của bài đọc, hãy hoàn thành các câu sau bằng cách kéo thả các từ vào đúng vị trí.

1/ ________ là yếu tố quyết định một chất trở nên có hại hay không theo nguyên tắc của độc chất học.

2/ _________ có khả năng diệt vi khuẩn và virus nhưng vẫn chưa được kiểm chứng đầy đủ về hiệu quả và an toàn trên người.

3/ __________ là bước cần thiết để xác định tính an toàn của các sản phẩm nano trước khi áp dụng rộng rãi trên con người.

Kéo thả các thẻ vào ô trống phù hợp
Thử nghiệm lâm sàng Nano bạc Vật liệu nano Độc tính Nồng độ

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Đáp án:

Ô 1: Nồng độ
Ô 2: Nano bạc
Ô 3: Thử nghiệm lâm sàng

- Giải thích:

[nồng độ]: Đoạn [1] – “chính nồng độ và đường dùng của nó quyết định điều đó”. → Nồng độ là yếu tố cốt lõi quyết định độc tính.

[nano bạc]: Đoạn [5] – nêu các nghiên cứu về khả năng diệt virus, vi khuẩn; đồng thời khẳng định chưa có thử nghiệm lâm sàng trên người. → Đây là ví dụ điển hình về tiềm năng đi kèm rủi ro.

[thử nghiệm lâm sàng]: Đoạn [5]: “thử nghiệm lâm sàng trên người thì hoàn toàn chưa có”.

Đoạn [7]: cần kiểm chứng từ động vật đến thử nghiệm lâm sàng. → Là điều kiện bắt buộc trước khi ứng dụng rộng rãi.

- Đáp án: Lần lượt điền: nồng độ, nano bạc, thử nghiệm lâm sàng.

Đang tải chế độ Học...

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Câu 1

A. Giới thiệu quy trình in 3-D hydrogel chứa vi khuẩn.

B. Trình bày nguyên lí cấu tạo của một loại vật liệu sinh học mới.

C. Phân tích tiềm năng ứng dụng đa lĩnh vực của mực sinh học in 3-D.

D. Chứng minh hiệu quả vượt trội của vi khuẩn trong y học hiện đại.

Lời giải

Phương pháp: đọc hiểu, suy luận.

Căn cứ và phân tích:

- Đoạn [1] – [3]: Giới thiệu vật liệu và nguyên lí hoạt động.

- Đoạn [4] – [5]: Ứng dụng trong y sinh (chữa lành vết thương, ghép mô).

- Đoạn [6]: Ứng dụng trong xử lí môi trường (phân hủy phenol).

- Đoạn [7]: Mở rộng sang xử lí tràn dầu.

→ Bài viết triển khai theo trục ứng dụng đa lĩnh vực, không chỉ dừng ở kĩ thuật hay một ngành riêng

=> Chọn C.

Lời giải

Đáp án:

1. vi khuẩn

- Giải thích: Đoạn [3] tập trung mô tả:

+ Cấu trúc hydrogel.

+ Cách nó nuôi dưỡng và chứa vi khuẩn.

+ Cơ chế hoạt động khi in 3-D.

- Căn cứ: Đoạn [3]: nhiều chi tiết về polymer, môi trường sống của vi khuẩn trong gel.

→ Thành phần trung tâm là vi khuẩn.

- Đáp án: Điền từ: vi khuẩn.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Câu 4

A. Kích thước tiểu phân.

B. Tỷ lệ nhân so với bề mặt.

C. Khả năng vận chuyển và tạo hình.

D. Đường đưa vật liệu vào cơ thể.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Câu 6

A. Có thể suy đoán độc tính của một vật liệu nano từ vật liệu nano tương tự.

B. Các vật liệu nano cùng chất luôn có đặc tính giống nhau.

C. Mỗi vật liệu nano cần được đánh giá độc tính như một cá thể riêng biệt.

D. Độc tính của vật liệu nano chỉ phụ thuộc vào kích thước.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP