(2023) Đề thi thử Văn THPT soạn theo ma trận đề minh họa BGD ( Đề 8) có đáp án
35 người thi tuần này 4.6 880 lượt thi 6 câu hỏi
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
🔥 Học sinh cũng đã học
Đề tham khảo tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn 2025 có đáp án - Đề 34
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 19
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 18
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 17
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 16
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 15
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 14
Đề tham khảo ôn thi Tốt nghiệp THPT Ngữ văn 2025-2026 Sở Hà Tĩnh tập huấn có đáp án - Đề 13
Danh sách câu hỏi:
Lời giải
Lời giải
- Biện pháp tu từ được sử dụng: liệt kê: ngôi nhà nhỏ bên cái ao nhỏ dạo này chắc là nhiều muỗi lắm; phố Nguyễn Du với đường cây ven hồ, ở đó có ngôi nhà 72 vừa gần gũi, vừa xa lạ, xa vời; đường Bà Triệu, thư viện, đường Nguyễn Ái Quốc, hồ Tây...; những kỷ niệm thấm mát tâm hồn…
- Tác dụng:
+ Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn
+ Nhấn mạnh những ấn tượng của người chiến sĩ khi nhớ về Hà Nội
+ Thể hiện tình yêu, sự gắn bó và nỗi nhớ da diết của người chiến sĩ với Hà Nội, với quê hương khi ra đi chiến đấu.Lời giải
- Tình cảm của tác giả thể hiện trong đoạn trích: nỗi nhớ về Hà Nội, về N. Anh – người bạn gái bé nhỏ.
- Đó là những tình cảm chân thành, bình dị mà đáng trân quý của một chàng trai trẻ sẵn sàng rời xa quê hương, xa người yêu dấu để chiến đấu vì Tổ quốc. Tình cảm ấy cũng khiến mỗi chúng ta thêm trân trọng những gì đang được hưởng và nhắc nhở ta cần cố gắng phấn đấu nhiều hơn để đóng góp vào công cuộc xây dựng, bảo vệ đất nước, xứng đáng với sự hi sinh của những thế hệ đi trước.Lời giải
a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn
Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
vai trò của lí tưởng trong cuộc sốngc. Triển khai vấn đề nghị luận
Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ vấn đề: vai trò của lí tưởng trong cuộc sống
Có thể theo hướng:
- Lí tưởng sống là kim chỉ nam cho cuộc sống của con người, người sống không có lí tưởng chỉ là tồn tại, sẽ cảm thấy cuộc đời thật nhàm chán, không có gì thú vị, lâu dần dẫn đến suy nghĩ và hành vi tiêu cực.
- Lí tưởng sống là động lực để con người vươn lên, tạo dựng cho mình những giá trị tốt đẹp, hướng chúng ta đến những điều hay lẽ phải, tránh xa cái xấu, cái ác.
- Lí tưởng sống mang lại nhiều lợi ích cho con người, nó khiến cho chúng ta tốt hơn, rèn luyện được những đức tính tốt đẹp khác cũng như mang con người đến gần nhau hơn…d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.e. Sáng tạo
Thể hiện sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.Lời giải
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề.b.Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích nhân vật người vợ nhặt qua đoạn văn trong “Vợ nhặt”. Từ đó nhận xét về tư tưởng nhân đạo của nhà văn khi xây dựng nhân vật.c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lý lẽ và dẫn chứng; bảo đảm các yêu cầu sau:* Phân tích nhân vật
- Cuộc đời, số phận
+ Tên gọi: nhà văn không đặt cho nhân vật một cái tên riêng mà luôn gọi bằng những danh từ chung như cô ả, thị, người đàn bà -> thân phận bé nhỏ, khốn cùng của con người trong nạn đói.
+ Ngoại hình: Qua hai lần gặp gỡ, ngoại ngoại hình của nhân vật thay đổi khiến Tràng không nhận ra: gầy sọp, quần áo tả tơi như tổ đỉa, khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt trũng xoáy -> cái đói đã hủy hoại cả nhân hình của cô.
+ Công việc: ngồi vêu ra ở gần kho thóc tỉnh chờ nhặt hạt rơi, hạt vãi hoặc ai có việc gì thì gọi -> công việc hoàn toàn trông chờ vào may rủi không thể giúp cô tồn tại trong nạn đói.
=> Người vợ nhặt là một nạn nhân của nạn đói, bị cái đói dồn đuổi đến tận cùng, hủy hoại cả nhân hình.
- Vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật: đằng sau vẻ ngoài đanh đá, chao chát, chỏng lỏn là khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng hạnh phúc và ý thức tự trọng
+ Cái đói không chỉ hủy hoại nhân hình mà còn khiến cô tha hóa, trở thành một người phụ nữ đanh đá, chao chát, chỏng lỏn. Lần thứ nhất gặp Tràng, chỉ nghe một câu hò vu vơ mà thi đã cong cớn đáp lại, ton ton ra đẩy xe cho một người đàn ông xa lạ, thậm chí còn liếc mắt cười tình tứ với anh. Lần thứ hai gặp lại, thị sấn sổ chạy tới, sưng sỉa trách móc, thẳng thừng gợi ý để được mời ăn. Khi Tràng đồng ý, hai mắt thị sáng lên, thị thay đổi thái độ trở nên đon đả. Rồi thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì. Sau đó, bám vào một câu đùa vu vơ của Tràng, thị quyết định theo không anh về làm vợ.
+ Đằng sau những hành động ấy là khát vọng sống mãnh liệt. Giữa lúc đói khát, miếng ăn là thứ duy nhất giúp con người tồn tại nên cô sẵn sàng bám lấy mọi cơ hội để có thể tìm kiếm miếng ăn để tồn tại. Cái liếc mắt tình tứ kia không phải là bởi sức hấp dẫn của Tràng mà bởi miếng ăn hiện hữu trong câu hò của anh. Cô bám vào câu nói đùa của Tràng để theo anh về cũng bởi khát vọng trốn chạy cái đói cùng khao khát về một mái ấm gia đình bình dị như bao người.
+ Trong hai lần gặp gỡ, trước mỗi hành động được coi là sỗ sàng, cô luôn lên tiếng phủ định nỗi sợ hãi đã thật thì đẩy chứ sợ gì, ăn thì ăn sợ gì. Điều này khẳng định rằng sâu thẳm trong nội tâm thị đang tồn tại một nỗi sợ hãi khi ý thức bản thân đang chuẩn bị có những hành vi đi ngược lẽ thường. Và một khi con người con biết sợ nghĩa là trong họ còn ý thức tự trọng.
=> Nhân vật người vợ nhặt được đặt vào một tình huống độc đáo, éo le để từ đó nhà văn khai thác sự tương phản giữa bên ngoài và bên trong nhân vật thông qua những hành động, cử chỉ, ngôn ngữ. Nhân vật chính là hiện thân của những người nông dân khốn khổ trong nạn đói. Đồng thời, qua đó, ta cũng cảm nhận được tình cảm yêu thương, sự quan tâm chân thành, sâu sắc của nhà văn dành cho họ.* Nhận xét về tư tưởng nhân đạo của Kim Lân khi xây dựng nhân vật
- Xây dựng hình tượng nhân vật người vợ nhặt, nhà văn đã thể hiện thái độ đồng cảm, trân trọng với khát vọng hạnh phúc của con người để từ đó khẳng định: dù trong tình huống bi thảm tới đâu, dù kế bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống cho ra người. Đây cũng chính là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của ngòi bút Kim Lân thể hiện trong tác phẩm.
- Tư tưởng nhân đạo sâu sắc ấy góp phần làm nên giá trị và sức sống lâu bền trong thân bút của nhà văn xứ Kinh Bắc.d. Chính tả, ngữ pháp
Bảo đảm chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.e. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.