Câu hỏi:

09/01/2026 52 Lưu

Đọc văn bản:

ẦM VU, ẦM VU...

(Trích)

Trần Đức Tiến(1)

Những buổi chiều mùa hè, nhiều người trong xóm tôi thường rủ nhau ra con đỗi(2) chơi thả diều. Con đỗi đắp nổi chạy ngang qua cánh đồng, nên tha hồ có không gian thoáng đãng cho diều lên. Người lớn thả diều của người lớn. Trẻ con chơi diều trẻ con. Diều bay cao diều bay thấp, diều đứng yên diều nhào lộn. Lại có cả những cánh én gấp bằng giấy thả lên chỉ ngang tầm ngọn tre, chùm đuôi dài vẫy vẫy rất vui mắt. Mê chơi diều, nhiều khi sẩm tối chưa biết đường về nhà.

(Lược một đoạn: Tầm mười tuổi là tôi đã tự làm được diều. Chỉ cần vài thanh tre cật vót nan, mấy tờ giấy nho, một ít nhựa sung là có thể phất được một con diều. Dây điều của bọn tôi thường là dây chuối, chỉ khâu, dây gai. Diều của người lớn cầu kì hơn. Lúc đem điều thả, phải có kĩ thuật thì điều mới bay cao. Diều người lớn thường cũng thêm ống sáo, sáo đơn hoặc sáo kép...)

Mỗi sáo kêu một giọng. Tiếng thanh tiếng đục. Tiếng bổng tiếng trầm. Tiếng sáo còn tùy thuộc vào diều nào đứng im, diều nào hay nghiêng đảo (gọi là diều ngoáy cháo). Diều ngoáy cháo thì tiếng sáo nghe nghịch, hỗn. Bốn, năm cái diều sáo thả lên đủ làm thành bản hòa tấu nhạc đồng quê thật êm đềm, da diết. Những đêm trăng sáng, tiếng sáo diều vi vút hơn, vang xa hơn. Để diều bay suốt đêm là thường. Âm thanh vời vợi trời mây ru mọi người vào giấc ngủ. Và trong giấc ngủ, có những giấc mơ thật ngọt ngào...

Tiếng sáo diều của anh Tùng không o o u u đều đều một giọng như sáo những con diều khác. “Ầm vu… ầm vu... u u u...”. Lúc xa lúc gần. Tưởng ở mạn đông lại hóa ra mạn tây. Một con diều thả lên mà như có hai, ba con diều cùng nhau bay lượn. Chiều nào anh Tùng thả diều là chúng tôi biết ngay. Không lẫn đi đâu được.

Chị Thắm cũng mê tiếng sáo “ầm vu”, nhưng chị đâu biết con diều của ai? Vì chị không phải là người cùng làng. Chị ở mãi trên Đà Tiềm, cách làng tôi bốn, năm cây số.

Chị Thắm bị bệnh khó ngủ. Đêm chị thức chong chong. Nhưng ban ngày có khi chị lại thiếp đi bất chợt. Người ta kể có hôm chị đang cấy ngoài đồng thì cơn buồn ngủ ập đến. Cứ thế chị vừa cấy vừa ngủ. Hết nắm mạ trên tay mà vẫn bước, vẫn tiếp tục dúi tay không xuống bùn. Đến khi giật mình choàng thức, ngoảnh lại, còn cả một khoảnh ruộng trắng...

Đêm đêm chị Thắm trải chiếu ra nằm ngoài hè, ngửa mặt nhìn trời. Đếm đi đếm lại số sao trên khoảng trời từ ngọn tre cuối vườn sang nóc bếp nhà hàng xóm mà vẫn không sao chợp mắt nổi. Những sợi dây thần kinh trong đầu chị chỉ dịu đi khi nghe tiếng sáo “ầm vu… ầm vu… u u u”… Cái thanh âm đặc biệt ấy giống như con thuyền bập bềnh đưa chị trôi dần vào giấc mơ.

Nhưng có một đêm, tiếng sáo lạ lùng đột nhiên bị ngắt quãng. Rõ ràng đang “ầm vu” êm tai, bỗng nhiên “ủ ủ ủ ủ” mấy tiếng như người đứt hơi. Rồi tất cả rơi thỏm vào im lặng. Những ngôi sao đứng yên, nhấp nháy. Chị Thắm lại thức chong chong nhìn sao.

Sáng sớm hôm sau, vừa ăn xong mấy củ khoai lót dạ để chuẩn bị ra đồng, chị thấy bóng người lạ thấp thoáng ngoài cổng rào nhà mình.

- Ai hỏi gì ngoài ấy thế? - Chị Thắm đánh tiếng hỏi vọng ra.

- Chị làm ơn... - Người đàn ông trẻ tuổi vừa nói vừa rụt rè chỉ lên ngọn tre cuối vườn.

- Anh mua tre đan hay tre lạt?

- Dạ không... Con diều của tôi....

Chị Thắm nhìn lên. Chiếc diều cánh cốc như con chim khổng lồ bị trọng thương mắc trên ngọn tre, với một bên cánh bị gai tre đâm rách toạc. Một đoạn dây lòng thòng dính theo diều. Người đàn ông lạ mặt ấy chính là anh Tùng. Hóa ra lúc nửa đêm về sáng, chị Thắm giật mình nghe tiếng “ủ ủ” ấy là lúc con diều của anh Tùng bị đứt dây bay đi. Sáng ra, anh Tùng đành nương theo hướng gió mà chạy đi tìm. Chạy mãi, chạy mãi lên Đà Tiềm, rồi trời đất run rủi thế nào, anh tìm đến bụi tre cuối vườn nhà chị Thắm.

Chị mở cổng rào cho anh vào tìm cách lấy lại diều.

Vậy là nhờ có con diều đứt dây mối lái, anh Tùng gặp được chị Thắm. Rồi cả hai phải lòng nhau. Nửa năm sau, họ tổ chức đám cưới.

Chị Thắm khỏi tiệt căn bệnh mất ngủ. Anh Tùng cũng nghỉ chơi thả diều. Suốt ngày chỉ thấy anh chí thú với công việc đồng áng. Nghe nói nhiều người tìm đến hỏi mua cái ống sáo “ầm vu” có một không hai của anh, nhưng anh không bán. Anh vẫn để sáo gắn với diều, và đem cái kỉ niệm để đời ấy gác kĩ lên xà nhà.

(Trên đôi cánh chuồn chuồn, NXB Kim Đồng, 2020, tr.160 - 166)

Chú thích:

(1): Nhà văn Trần Đức Tiến sinh năm 1953, quê Hà Nam, hiện sống và làm việc ở Vũng Tàu. Ông có nhiều tuyển tập truyện cho thiếu nhi như: Dế mùa thu, Trên đôi cánh chuồn chuồn, Làm mèo, Xóm bờ giậu... Với ông, kí ức về tuổi thơ là tài sản tinh thần vô giá trong cuộc đời mỗi người.

(2): con đỗi: bờ ruộng.

Xác định ngôi kể của truyện.

Quảng cáo

Trả lời:

verified Giải bởi Vietjack
Ngôi kể của truyện: Ngôi thứ nhất

Câu hỏi cùng đoạn

Câu 2:

Vào Những đêm trăng sáng tiếng sáo diều được tác giả miêu tả như thế nào?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Tiếng sáo diều được tác giả miêu tả: vi vút hơn, vang xa hơn.

Câu 3:

Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn: Cái thanh âm đặc biệt ấy giống như con thuyền bập bềnh đưa chị trôi dần vào giấc mơ.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Tác dụng của biện pháp tu từ so sánh:

- Làm cho câu văn giàu hình ảnh, gợi cảm.

- Nhấn mạnh âm thanh êm ái, du dương, nhẹ nhàng của tiếng sáo diều; sự khác biệt trong tiếng sáo diều của anh Tùng.

Câu 4:

Theo em, vì sao nhiều người tìm đến hỏi mua cái ống sáo “ầm vu” nhưng anh Tùng không bán?

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Lí do anh Tùng không bán cái ống sáo “ầm vu”: cái ống sáo gắn với tình yêu của anh và chị Thắm; thể hiện niềm đam mê sáo diều; sự trân trọng nâng niu kỉ niệm…

Câu 5:

Nhận xét khung cảnh làng quê được thể hiện trong truyện ngắn.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

Nhận xét khung cảnh làng quê được thể hiện trong truyện ngắn:

- Khung cảnh làng quê: bờ ruộng, cánh đồng, những đêm trăng sáng, bầu trời đầy sao, bụi tre cuối vườn; người chơi thả diều, người đi làm đồng…

- Nhận xét: khung cảnh thoáng đãng, êm đềm, thơ mộng, yên bình….

Câu 6:

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tùng trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Xem lời giải

verified Giải bởi Vietjack

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn:

Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo một trong các cách: diễn dịch, quy nạp, phối hợp, song song….

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

Phân tích nhân vật Tùng trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

c. Viết được đoạn văn đảm bảo các yêu cầu:

      Lựa chọn được các thao tác lập luận và phương thức biểu đạt phù hợp; lập luận chặt chẽ, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng đề làm sáng tỏ luận điểm; lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp theo trình tự hợp lí trên cơ sở nhứng gợi ý sau:

- Là người chăm chỉ, chất phác, yêu thích diều sáo.

- Là người có tài làm diều sáo.

- Là người giàu tình cảm.

- Nhân vật được thể hiện qua cốt truyện đơn giản, ngôn ngữ giàu chất thơ; chi tiết đặc sắc; giọng văn trữ tình, sâu lắng…

Hướng dẫn chấm:

- Đáp ứng khoảng 2/3 các ý như Đáp án, lập luận chặt chẽ, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm: 1,0 điểm.

- Đáp ứng 1/3 các ý như Đáp án, lập luận chưa chặt chẽ, chưa thuyết phục: 0,5 điểm.

- Không hiểu vấn đề hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

d. Diễn đạt:

      Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.

đ. Sáng tạo:

        Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ

Lời giải

a. Bảo đảm bố cục của bài văn nghị luận

                  Bảo đảm yêu cầu về bố cục của bài văn.

b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:

Cách thức lưu truyền trò chơi dân gian trong đời sống hiện nay.

c. Viết được bài văn nghị luận đảm các yêu cầu:

      Lựa chọn được các thao tác lập luận và phương thức biểu đạt phù hợp; lập luận chặt chẽ, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng đề làm sáng tỏ luận điểm; lí lẽ, bằng chứng được sắp xếp theo trình tự hợp lí. Có thể triển khai theo hướng:

Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.

Thân bài:

* Giải thích:

- Trò chơi dân gian: là những trò chơi truyền thống được phổ biến trong đời sống cộng đồng, thường gắn liền với văn hóa và phong tục tập quán.

- Lưu truyền: gìn giữ, truyền rộng ra hoặc lâu dài.

(Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Giáo dục, 2005)

=> Cần có những cách thức để lưu truyền các trò chơi dân gian trong đời sống hiện đại, tránh nguy cơ mai một.

Hướng dẫn chấm:

- Có thể giải thích nhiều cách khác nhau, nhưng hợp lí, thuyết phục: 0,5 điểm

- Không hiểu vấn đề hoặc không trả lời: 0,0 điểm.

* Bàn luận:

- Nhận thức về vấn đề: Lưu truyền trò chơi dân gian là việc quan trọng, cần thiết: Trò chơi dân gian mang nhiều ý nghĩa trong đời sống con người như giải trí, tăng cường kĩ năng sống, sự kết nối….nhưng với sự xuất hiện cuatr nhiều loại hình giải trí mới, nó đang dần bị lãng quên.

- Đề xuất cách thức lưu truyền trò chơi dân gian trong đời sống hiện nay:

+ Giới thiệu, tái hiện các trò chơi dân gian.

+ Đưa trò chơi dân gian vào các hoạt động giáo dục, vui chơi giải trí trong nhà trường, gia đình, cộng đồng.

+ Tham gia tích cực các trò chơi dân gian.

+ Ứng dụng công nghệ để làm mới, lan tỏa các trò chơi dân gian…

Hướng dẫn chấm:

- Lập luận chặt chẽ, thuyết phuc, đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm: 1,5 điểm.

- Lập luận chưa thật chặt chẽ, dẫn chứng chưa tiêu biểu: 1,0 điểm.

- Lập luận không chặt chẽ, dẫn chứng chưa phù hợp: 0,5 điểm

- Không hiểu vấn đề hoặc không trình bày: 0,0 điểm.

* Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác:

+ Không phải ai cũng cho rằng việc lưu truyền trò chơi dân gian là cần thiết.

+ Cách thức lưu truyền các trò chơi dân gian cần phù hợp, hài hòa, không phủ nhận các trò chơi hiện đại…

Hướng dẫn chấm:

- Biết mở rộng vấn đề, hợp lí, thuyết phục: 0,5 điểm

- Không hiểu vấn đề hoặc không trình bày: 0,0 điểm.

Kết bài: Khẳng định lại vấn đề nghị luận, rút ra bài học nhận thức và hành động.

Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với yêu cầu của đề và chuẩn mực đạo đúc, pháp luật.

d. Diễn đạt:

     Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.

đ. Sáng tạo:

     Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.

Lời giải

Tiếng sáo diều được tác giả miêu tả: vi vút hơn, vang xa hơn.

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP

Lời giải

Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 199K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.

Nâng cấp VIP