Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 41 đến câu 50.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÔ ĐỘC GIỮA RỪNG
Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi ấy, rừng này còn nhiều hổ lắm. [...] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hổ chúa mò vào, từ ngoài sân phóng một cái phủ lên người gã. Bất thần gã tỉnh dậy. Gã vớ luôn cái mác bên người, cũng không kịp ngồi dậy nữa, cứ nằm ngửa thế mà xóc mũi mác lên đâm thẳng một nhát vào hàm dưới con hổ chúa, hai chân gã đá thốc lên bụng nó, không cho con ác thú kịp chụp xuống người. Con hổ chúa lộn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mác đâm từ hàm dưới thấu lên tận óc, làm nó không hả họng được, nhưng vẫn còn cố vớt cái tát cuối cùng, để lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ. Không biết có phải do đấy mà gã mang tên “Võ Tòng” hay không? Chứ theo như một vài ông lão đa sự, thì ngày xưa, gã là một chàng trai hiền lành, ở tận một vùng xa lắm. Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gã là một người đàn bà trông cũng xinh mắt. Chị ấy, lúc có chửa đứa đầu lòng, cứ kêu thèm ăn măng. Gã đàn ông hiền lành, quý vợ rất mực ấy bèn liều xách dao đến bụi tre đình làng xẳn một mụt măng. Khi về qua ngang bờ tre nhà tên địa chủ, tên này bắt gã bỏ mụt măng xuống và vu cho gã lấy trộm măng tre của hắn. Gã một mực cãi lại, nhưng tên địa chủ quyền thế nhất xã ấy cứ vung ba toong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn được, chứ đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà…. thì số mày tới rồi!”. Lưỡi dao trên tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba toong lên đầu gã đến cái thứ hai. Nhát dao chém trả vào mặt đã gí tên bóc lột và hống hách này nằm gục xuống vũng máu. Nhưng gã không trốn chạy. Gã đường hoàng xách dao đến ném trước nhà việc, bỏ tay chịu tội. Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thì nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia, và đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mặt thì đã chết từ khi gã còn ngồi trong khám lạnh. Người trong xã vốn ghét tên địa chủ hống hách, khấp khởi chờ xem cuộc rửa thù bằng máu lần thứ hai. Nhưng họ đã thất vọng. Gã chỉ kêu trời một tiếng rồi cười nhạt bỏ làng ra đi. Những người đa sự quả quyết rằng chính gã đã mang tên “Võ Tòng” từ lúc xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những chữ bùa xanh lè xăm rằn rực trên người gã, và gã trở nên một người giỏi võ từ lúc nào, thì có kẻ nói đó là dấu vết trong những năm gã ở tù, lại có người bảo đó là mới có từ lúc gã đi giang hồ. Hơn mười năm sống trơ trọi giữa rừng, mặc dầu, cũng có nhiều người đánh tiếng mối mai cho gã, nhưng tuyệt nhiên Võ Tòng không để mắt tới một người đàn bà nào nữa. Ở trong rừng lâu năm chầy tháng, gã ngày càng trở nên kì hình dị tướng. Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không. Điều đó, má nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy...
(Trích Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi, NXB Văn học, Hà Nội, 2010)
Trả lời cho các câu từ 41 đến 50 dưới đây:
Nhận định nào sau đây lí giải chính xác và sâu sắc nhất về hiệu quả của sự kết hợp điểm nhìn trần thuật trong đoạn trích?
Dựa vào thông tin được cung cấp để trả lời cho các câu 41 đến câu 50.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÔ ĐỘC GIỮA RỪNG
Không ai biết tên thật của gã là gì. Mười mấy năm về trước, gã một mình bơi một chiếc xuồng nát đến che lều ở giữa khu rừng đầy thú dữ này. Gã sống đơn độc một mình, đến con chó để làm bạn cũng không có. Hồi ấy, rừng này còn nhiều hổ lắm. [...] Một buổi trưa, gã đang ngủ trong lều, có con hổ chúa mò vào, từ ngoài sân phóng một cái phủ lên người gã. Bất thần gã tỉnh dậy. Gã vớ luôn cái mác bên người, cũng không kịp ngồi dậy nữa, cứ nằm ngửa thế mà xóc mũi mác lên đâm thẳng một nhát vào hàm dưới con hổ chúa, hai chân gã đá thốc lên bụng nó, không cho con ác thú kịp chụp xuống người. Con hổ chúa lộn vòng, rơi xuống đất. Lưỡi mác đâm từ hàm dưới thấu lên tận óc, làm nó không hả họng được, nhưng vẫn còn cố vớt cái tát cuối cùng, để lại trên mặt gã một hàng sẹo khủng khiếp chạy từ thái dương xuống cổ. Không biết có phải do đấy mà gã mang tên “Võ Tòng” hay không? Chứ theo như một vài ông lão đa sự, thì ngày xưa, gã là một chàng trai hiền lành, ở tận một vùng xa lắm. Gã cũng có gia đình đàng hoàng như ai. Vợ gã là một người đàn bà trông cũng xinh mắt. Chị ấy, lúc có chửa đứa đầu lòng, cứ kêu thèm ăn măng. Gã đàn ông hiền lành, quý vợ rất mực ấy bèn liều xách dao đến bụi tre đình làng xẳn một mụt măng. Khi về qua ngang bờ tre nhà tên địa chủ, tên này bắt gã bỏ mụt măng xuống và vu cho gã lấy trộm măng tre của hắn. Gã một mực cãi lại, nhưng tên địa chủ quyền thế nhất xã ấy cứ vung ba toong đánh lên đầu gã. “Đánh đâu thì còn nhịn được, chứ đánh lên đầu là nơi thờ phụng ông bà…. thì số mày tới rồi!”. Lưỡi dao trên tay gã không cho phép tên địa chủ ngang ngược kia giơ tay đánh ba toong lên đầu gã đến cái thứ hai. Nhát dao chém trả vào mặt đã gí tên bóc lột và hống hách này nằm gục xuống vũng máu. Nhưng gã không trốn chạy. Gã đường hoàng xách dao đến ném trước nhà việc, bỏ tay chịu tội. Sau mười năm tù đày, gã trở về làng cũ thì nghe tin vợ đã làm lẽ tên địa chủ kia, và đứa con trai độc nhất mà gã chưa biết mặt thì đã chết từ khi gã còn ngồi trong khám lạnh. Người trong xã vốn ghét tên địa chủ hống hách, khấp khởi chờ xem cuộc rửa thù bằng máu lần thứ hai. Nhưng họ đã thất vọng. Gã chỉ kêu trời một tiếng rồi cười nhạt bỏ làng ra đi. Những người đa sự quả quyết rằng chính gã đã mang tên “Võ Tòng” từ lúc xách dao đến nhà việc chịu tội. Còn như những chữ bùa xanh lè xăm rằn rực trên người gã, và gã trở nên một người giỏi võ từ lúc nào, thì có kẻ nói đó là dấu vết trong những năm gã ở tù, lại có người bảo đó là mới có từ lúc gã đi giang hồ. Hơn mười năm sống trơ trọi giữa rừng, mặc dầu, cũng có nhiều người đánh tiếng mối mai cho gã, nhưng tuyệt nhiên Võ Tòng không để mắt tới một người đàn bà nào nữa. Ở trong rừng lâu năm chầy tháng, gã ngày càng trở nên kì hình dị tướng. Nhưng ai cũng mến gã ở cái tính tình chất phác, thật thà, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người mà không hề nghĩ đến chuyện người ta có đền đáp lại mình không. Điều đó, má nuôi tôi quả quyết, nói một cách chắc chắn như vậy...
(Trích Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi, NXB Văn học, Hà Nội, 2010)
Trả lời cho các câu từ 41 đến 50 dưới đây:
Nhận định nào sau đây lí giải chính xác và sâu sắc nhất về hiệu quả của sự kết hợp điểm nhìn trần thuật trong đoạn trích?
Quảng cáo
Trả lời:
Đáp án: A
Phương pháp giải: Nhận diện ngôi kể → phân tích tác dụng → loại trừ phương án cực đoan.
Giải chi tiết:
- Đoạn trích chủ yếu ngôi 3 + điểm nhìn “tôi” và cộng đồng
- → Vừa khách quan vừa có trải nghiệm
- B sai (không làm giảm khách quan)
- C sai (không rời rạc)
- D sai (không “tuyệt đối”)
Câu hỏi cùng đoạn
Câu 2:
Cách xây dựng lai lịch Võ Tòng qua nhiều nguồn kể khác nhau chủ yếu nhằm mục đích gì?
Cách xây dựng lai lịch Võ Tòng qua nhiều nguồn kể khác nhau chủ yếu nhằm mục đích gì?
Đáp án: A
Phương pháp giải: Xác định dụng ý nghệ thuật của chi tiết “nhiều lời kể”.
Giải chi tiết:
- Nhiều nguồn kể → không rõ ràng → tạo màu sắc huyền thoại
- Đồng thời thể hiện góc nhìn cộng đồng
→ A đúng, các phương án khác cực đoan
Câu 3:
Hành động chống trả địa chủ của Võ Tòng cần được hiểu như thế nào để tránh cách đánh giá phiến diện?
Hành động chống trả địa chủ của Võ Tòng cần được hiểu như thế nào để tránh cách đánh giá phiến diện?
Đáp án: B
Phương pháp giải: Phân biệt nguyên nhân trực tiếp – bản chất hành động.
Giải chi tiết: “đánh lên đầu…” → xúc phạm danh dự → phản ứng bảo vệ nhân phẩm → B đúng
Câu 4:
Chi tiết Võ Tòng không trả thù khi trở về làng có ý nghĩa gì trong việc khắc họa chiều sâu nhân vật?
Chi tiết Võ Tòng không trả thù khi trở về làng có ý nghĩa gì trong việc khắc họa chiều sâu nhân vật?
Đáp án: B
Phương pháp giải: Phân tích hành động → suy ra biến đổi tâm lí.
Giải chi tiết:
- Không trả thù ≠ yếu đuối
→ là sự buông bỏ sau bi kịch
→ B đúng
Câu 5:
Việc đặt chi tiết “giết hổ” sau chuỗi biến cố đời người có tác dụng gì nổi bật?
Việc đặt chi tiết “giết hổ” sau chuỗi biến cố đời người có tác dụng gì nổi bật?
Đáp án: B
Phương pháp giải: Xác định vị trí chi tiết trong kết cấu.
Giải chi tiết:
- Sau bi kịch → giết hổ → nâng tầm nhân vật
→ B đúng
Câu 6:
Từ cách nhìn của cộng đồng về Võ Tòng, có thể rút ra nhận xét nào sau đây?
Đáp án: C
Phương pháp giải: Phân tích thái độ cộng đồng qua chi tiết.
Giải chi tiết: “đa sự”, “khấp khởi” → vừa tò mò vừa thêu dệt
→ C đúng
Câu 7:
Phát biểu nào sau đây phản ánh đúng nhất dụng ý nghệ thuật khi tác giả đặt chi tiết “giết hổ” ở phần đầu nhưng lại kể về quá khứ sau đó?
Đáp án: A
Phương pháp giải:
- Nhận diện kết cấu phi tuyến tính (đảo trật tự kể)
- Xem xét tác dụng nghệ thuật của việc kể trước – giải thích sau
- Đối chiếu các phương án với mục đích khắc hoạ nhân vật
Giải chi tiết:
- Đoạn trích mở đầu bằng hành động giết hổ đầy kịch tính, gây ấn tượng mạnh.
- Sau đó mới quay về kể quá khứ bi kịch (tù đày, mất vợ con) → tạo chiều sâu nhân vật.
→ Đây là thủ pháp quen thuộc: gây tò mò → lí giải nguyên nhân → tăng giá trị nhân vật - Loại B: Không phải gây “khó hiểu” mà là có chủ đích nghệ thuật rõ ràng
- Loại C: Không thiên về sử thi mà vẫn giàu tính bi kịch đời thường
- Loại D: Không phải giảm nhẹ bi kịch, mà ngược lại làm nổi bật hơn
→ Chọn A
Câu 8:
Nhận định nào sau đây lí giải hợp lí nhất vì sao Võ Tòng không “rửa thù lần hai” dù có đủ điều kiện?
Nhận định nào sau đây lí giải hợp lí nhất vì sao Võ Tòng không “rửa thù lần hai” dù có đủ điều kiện?
Đáp án: B
Phương pháp giải:
- Phân tích tâm lí nhân vật sau biến cố
- Đối chiếu chi tiết “kêu trời một tiếng rồi cười nhạt bỏ đi”
- Loại trừ các phương án suy diễn cực đoan
Giải chi tiết:
- Võ Tòng sau khi ra tù:
- Mất vợ (bị cướp)
- Mất con (đã chết)
→ Không còn gì để giành lại - Hành động: “kêu trời một tiếng rồi cười nhạt bỏ đi”
→ Thể hiện sự buông bỏ, nhận ra trả thù không còn ý nghĩa - Loại A: Đúng một phần nhưng chưa sâu bằng (chưa nhấn mạnh “mất mát không thể bù đắp”)
- Loại C: Mang tính suy diễn ý đồ tác giả, không trực tiếp từ văn bản
- Loại D: Sai, vì nhân vật vẫn mạnh mẽ (sống giữa rừng, giết hổ)
→ Chọn B
Câu 9:
Cách xây dựng chi tiết “những lời đồn khác nhau về lai lịch và hình xăm” có tác dụng chủ yếu nào sau đây?
Cách xây dựng chi tiết “những lời đồn khác nhau về lai lịch và hình xăm” có tác dụng chủ yếu nào sau đây?
Đáp án: B
Phương pháp giải:
- Nhận diện thủ pháp “lời đồn – dị bản”
- Xác định hiệu quả thẩm mĩ (không phải thông tin)
- Phân biệt giữa “xác thực” và “huyền thoại hóa”
Giải chi tiết:
- Văn bản đưa ra nhiều khả năng: Do ở tù, Do đi giang hồ → Không xác định cái nào đúng
→ Tác dụng:
- Làm nhân vật bí ẩn, nửa thực nửa huyền thoại
- Tăng chiều sâu và sức hấp dẫn
- Loại A: Sai → nhiều nguồn không làm “xác thực” mà làm “mơ hồ”
- Loại C: Không phải mục tiêu chính
- Loại D: Ngược lại, không lí giải rõ mà làm mờ
→ Chọn B
Câu 10:
Việc đặt tên nhân vật là “Võ Tòng” gợi ra ý nghĩa liên văn bản nào sâu sắc nhất?
Việc đặt tên nhân vật là “Võ Tòng” gợi ra ý nghĩa liên văn bản nào sâu sắc nhất?
Đáp án: A
Phương pháp giải:
- Nhận diện hiện tượng liên văn bản
- Xem xét ý nghĩa biểu tượng của tên gọi
- So sánh các mức độ khái quát của đáp án
Giải chi tiết:
- “Võ Tòng” → liên hệ trực tiếp đến nhân vật trong Thủy hử
→ biểu tượng: - Anh hùng
- Trượng nghĩa
- Diệt ác
→ Tác dụng sâu nhất:
- Nâng nhân vật lên tầm biểu tượng văn học, không chỉ là người bình thường
- Loại B: Chỉ dừng ở “so sánh”, chưa đủ chiều sâu
- Loại C: Quá rộng, mang tính khái quát văn hóa
- Loại D: Chỉ nói về “võ”, chưa bao quát giá trị biểu tượng
→ Chọn A
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Câu 1
Lời giải
Đáp án: B
Phương pháp: Xác định nội dung xuyên suốt toàn văn bản.
Giải chi tiết: Văn bản xoay quanh: “đau quy chiếu”, nguyên nhân gián tiếp gây đau đầu, các loại đau đầu phổ biến → B bao quát đầy đủ nhất
- Loại:
A → quá chuyên sâu, không phải mục đích chính
C → suy diễn sai bản chất
D → chỉ là phần phụ cuối bài
Câu 2
Lời giải
Đáp án: A, B, C, D
Phương pháp giải: Phân tích đề bài để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men sản xuất rượu hoa quả
Giải chi tiết:
Theo đề bài: “Khả năng sản xuất ethanol của nấm men còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài như pH, nhiệt độ, thời gian lên men, cơ chất và các vi lượng.”
→ Tất cả các yếu tố đã cho đều ảnh hưởng đến quá trình lên men
Câu 3
A. tăng vì nhiệt độ giảm làm khí co lại.
B. giảm vì áp suất giảm đóng vai trò chủ đạo hơn so với sự giảm nhiệt độ.
C. không đổi vì thể tích khoang phổi không đổi.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Câu 6
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.