The picture below shows the plan of a museum in 1998 and after some changes were made in 2008. Summarize the information by selecting and reporting the main features and make comparisons where relevant.


The picture below shows the plan of a museum in 1998 and after some changes were made in 2008. Summarize the information by selecting and reporting the main features and make comparisons where relevant.


Câu hỏi trong đề: 2000 câu trắc nghiệm tổng hợp Tiếng Anh 2025 có đáp án !!
Quảng cáo
Trả lời:
Hướng dẫn giải:
Gợi ý 1:
The two maps illustrate the layout changes of a museum in 1998 and the modifications implemented by 2008.
Overall, while the central garden and the entrance/exit area remained in their initial locations, the museum underwent significant reconfigurations, particularly with the expansion of exhibition and dining facilities, the reduction of permanent rooms, and the relocation of amenities.
In 1998, the entrance led directly into a central Tickets/Entrance/exit area, which opened northward into a square Garden. The Permanent Exhibition Rooms occupied a vast area spanning the entire northern and upper-eastern sections of the building. The Temporary Exhibition Room was situated in the bottom-left corner, whereas the bottom-right zone housed a Shop, a WC, and a Bags and coats room. A small Cafe was located at the top-center, directly north of the garden.
By 2008, several dramatic alterations had occurred. The permanent exhibition space was reduced and relocated entirely to the right-hand side of the building. Meanwhile, the temporary exhibition room was substantially enlarged to occupy the previous upper-left permanent space. The original top-center cafe was split and expanded into a larger Restaurant and a separate Cafe, accompanied by a new outdoor Cafe sitting area adjacent to the garden. The garden itself was enhanced with the addition of fountains. Finally, the amenities on the bottom-right were rearranged, moving Bags and coats to the bottom-left corner, shifting the Shop next to the ticket area, and relocating the WC to a vertical strip above the garden.
(Hai bản đồ minh họa những thay đổi về bố cục của một bảo tàng vào năm 1998 và các sửa đổi được thực hiện vào năm 2008. Nhìn chung, trong khi khu vườn trung tâm và khu vực lối vào/lối ra vẫn giữ nguyên vị trí ban đầu, bảo tàng đã trải qua những cuộc tái cấu trúc đáng kể, đặc biệt là với việc mở rộng các cơ sở triển lãm và ăn uống, việc thu hẹp các phòng trưng bày cố định và sự di dời của các tiện ích. Vào năm 1998, lối vào dẫn trực tiếp vào khu vực Vé/Lối vào/Lối ra trung tâm, mở ra phía bắc hướng tới một Khu vườn hình vuông. Các Phòng Triển lãm Cố định chiếm một khu vực rộng lớn kéo dài toàn bộ các phần phía bắc và phía trên bên đông của tòa nhà. Phòng Triển lãm Tạm thời nằm ở góc dưới bên trái, trong khi khu vực phía dưới bên bên phải chứa Cửa hàng, Nhà vệ sinh (WC), và phòng Đồ đạc và Áo khoác. Một quán Cà phê nhỏ nằm ở phía trên-trung tâm, ngay phía bắc của khu vườn. Đến năm 2008, một số thay đổi đáng kể đã diễn ra. Không gian triển lãm cố định đã bị thu hẹp và chuyển hoàn toàn sang phía bên phải của tòa nhà. Trong khi đó, phòng triển lãm tạm thời đã được mở rộng đáng kể để chiếm không gian cố định phía trên bên trái trước đó. Quán cà phê phía trên-trung tâm ban đầu đã được chia tách và mở rộng thành một Nhà hàng lớn hơn và một quán Cà phê riêng biệt, kèm theo một Khu vực ngồi cà phê ngoài trời mới cạnh khu vườn. Bản thân khu vườn đã được cải thiện với việc bổ sung các đài phun nước. Cuối cùng, các tiện ích ở phía dưới bên phải đã được sắp xếp lại, di chuyển phòng Đồ đạc và Áo khoác xuống góc dưới bên trái, chuyển Cửa hàng sang cạnh khu vực bán vé, và dời Nhà vệ sinh đến một dải dọc phía trên khu vườn.)
Gợi ý 2:
The provided floor plans compare the architectural arrangement of a museum in 1998 with its redesigned layout ten years later in 2008.
A striking feature of the transformation is the shift from a balanced north-south exhibition symmetry to a more commercialized layout featuring an expanded dining area, updated outdoor features, and centralized visitor services.
In 1998, visitors entered through a central hub flanked by a temporary exhibition room on the left and commercial/amenity rooms on the right. The northern half was dominated by extensive permanent exhibition halls wrapping around a central green garden, which led to a small cafe at the top.
By 2008, the museum layout experienced a major overhaul. The permanent exhibition rooms were restricted exclusively to the eastern wing. The temporary exhibition room expanded northwards, taking over part of the former permanent space. The small top cafe was transformed into a much larger restaurant and cafe complex, complete with a dedicated cafe seating zone overlooking the newly installed fountains in the central garden. Furthermore, the visitor amenities underwent a reshuffle: the bag and coat storage was relocated to the bottom-left corner, the shop shifted adjacent to the ticket office, and the restrooms were moved to a narrow space north of the garden next to the east wing.
(Các sơ đồ mặt bằng được cung cấp so sánh sự sắp xếp kiến trúc của một bảo tàng vào năm 1998 với bố cục được thiết kế lại mười năm sau vào năm 2008. Một đặc điểm nổi bật của sự biến đổi này là sự chuyển dịch từ đối xứng triển lãm Bắc-Nam cân bằng sang bố cục thương mại hóa hơn với khu vực ăn uống mở rộng, các tính năng ngoài trời được cập nhật và các dịch vụ khách tham quan tập trung. Vào năm 1998, khách tham quan bước vào qua một trung tâm chính được bao quanh bởi phòng triển lãm tạm thời ở bên trái và các phòng thương mại/tiện ích ở bên phải. Nửa phía bắc bị chi phối bởi các sảnh triển lãm cố định rộng lớn bao quanh một khu vườn xanh trung tâm, dẫn đến một quán cà phê nhỏ ở phía trên. Đến năm 2008, bố cục bảo tàng đã trải qua một cuộc đại tu lớn. Các phòng triển lãm cố định bị giới hạn độc quyền ở cánh phía đông. Phòng triển lãm tạm thời mở rộng về phía bắc, chiếm một phần không gian cố định trước đây. Quán cà phê nhỏ phía trên đã được biến đổi thành một khu phức hợp nhà hàng và quán cà phê lớn hơn nhiều, hoàn chỉnh với khu vực chỗ ngồi cà phê dành riêng nhìn ra các đài phun nước mới lắp đặt ở khu vườn trung tâm. Hơn nữa, các tiện ích của du khách đã trải qua một cuộc xáo trộn: nơi lưu trữ túi xách và áo khoác đã được dời đến góc dưới bên trái, cửa hàng dịch chuyển cạnh quầy bán vé, và các phòng vệ sinh được chuyển đến một không gian hẹp phía bắc khu vườn bên cạnh cánh phía đông.)
Hot: 1000+ Đề thi cuối kì 2 file word cấu trúc mới 2026 Toán, Văn, Anh... lớp 1-12 (chỉ từ 60k). Tải ngay
CÂU HỎI HOT CÙNG CHỦ ĐỀ
Lời giải
Hướng dẫn giải:
The provided diagram illustrates the multi-stage linear and cyclical process involved in producing smoked fish, starting from catching the fish in the sea to final commercial retail.
Overall, the manufacturing process comprises roughly twelve distinct steps, beginning with catching and freezing the fish, followed by preparation, treating, smoking, and ultimately packaging, storage, and distribution to shops.
The process commences when fish are caught in nets at sea and transported by fishing boats to a port. Upon arrival, the fish are immed iately frozen. Before processing, the frozen fish are thawed and then washed in fresh water. Next, the fish are cut open and soaked in a mixture of salt water and yellow coloring.
Following this preparation phase, the fish are smoked. Once smoked, they are packed into boxes and subjected to a freezing process at 00 C. The boxed fish are then transferred to a cold store for preservation before being loaded onto trucks for distribution. Finally, the products are delivered to fish shops, where they are sold to consumers.
(Sơ đồ được cung cấp minh họa quy trình nhiều giai đoạn tuyến tính và tuần hoàn liên quan đến việc sản xuất cá xông khói, bắt đầu từ việc đánh bắt cá ngoài biển cho đến khâu bán lẻ thương mại cuối cùng. Nhìn chung, quy trình sản xuất bao gồm khoảng mười hai bước riêng biệt, bắt đầu bằng việc đánh bắt và cấp đông cá, tiếp theo là sơ chế, xử lý, xông khói, và cuối cùng là đóng gói, bảo quản và phân phối đến các cửa hàng. Quy trình bắt đầu khi cá được đánh bắt bằng lưới ngoài biển và được các tàu đánh cá vận chuyển đến cảng. Khi đến nơi, cá được cấp đông ngay lập tức. Trước khi chế biến, cá đông lạnh được rã đông và sau đó rửa sạch bằng nước ngọt. Tiếp theo, cá được mổ phanh và ngâm trong hỗn hợp nước muối kết hợp với chất tạo màu vàng. Sau giai đoạn chuẩn bị này, cá được đem đi xông khói. Khi đã xông khói xong, chúng được đóng vào hộp và trải qua quá trình cấp đông ở nhiệt độ 00 C. Cá đóng hộp sau đó được chuyển đến kho lạnh để bảo quản trước khi được đưa lên xe tải để phân phối. Cuối cùng, các sản phẩm được giao đến các cửa hàng cá, nơi chúng được bán cho người tiêu dùng.)
Gợi ý 2:
The given flowchart details the chronological sequence of steps required to manufacture smoked fish, tracing the journey from raw harvesting in the ocean to retail availability.
In general, the process is divided into three main phases: initial catch and preservation, pre-treatment and smoking, and post-smoking packaging and distribution.
The first phase begins with catching fish at sea using nets. The catch is then brought by boat to a port, where the fish are immediately frozen. Subsequently, the frozen fish undergo a thawing stage and are washed in fresh water to prepare them for processing.
During the second phase, the cleaned fish are cut open, followed by a soaking treatment in a solution of salt water and yellow coloring. They are then placed in a smoker. In the final phase, the smoked fish are packed into containers and frozen at 00 C. These containers are moved to a cold storage facility, transported via distribution trucks, and ultimately delivered to fish shops for final sale to customers.
(Biểu đồ quy trình cho trước trình bày chi tiết trình tự thời gian các bước cần thiết để sản xuất cá xông khói, theo dõi hành trình từ lúc đánh bắt thô ngoài đại dương cho đến khi có sẵn tại các điểm bán lẻ. Nhìn chung, quy trình được chia thành ba giai đoạn chính: đánh bắt và bảo quản ban đầu, tiền xử lý và xông khói, cùng với đóng gói và phân phối sau xông khói. Giai đoạn đầu tiên bắt đầu bằng việc đánh bắt cá ngoài biển bằng lưới. Sau đó, số cá đánh bắt được đưa bằng thuyền đến cảng, nơi cá được cấp đông ngay lập tức. Tiếp theo, cá đông lạnh trải qua công đoạn rã đông và được rửa bằng nước ngọt để chuẩn bị cho việc chế biến. Trong giai đoạn thứ hai, những con cá đã làm sạch được mổ phanh, tiếp theo là ngâm trong dung dịch nước muối và chất tạo màu vàng. Sau đó, chúng được đưa vào máy xông khói. Ở giai đoạn cuối cùng, cá xông khói được đóng vào thùng chứa và cấp đông ở 00 C. Các thùng chứa này được chuyển đến cơ sở kho lạnh, vận chuyển qua xe tải phân phối, và cuối cùng được giao đến các cửa hàng cá để bán cho khách hàng.)
Lời giải
Hướng dẫn giải:
Gợi ý 1:
The question of whether scientific research should be primarily funded and controlled by governments or private corporations is a subject of ongoing debate. While state oversight ensures that scientific endeavors prioritize public welfare and long-term societal needs, I believe that private sector involvement is equally essential for fostering rapid innovation and commercializing breakthroughs. Therefore, a collaborative model where both entities share responsibility is superior to strict government monopoly.
On the one hand, strong arguments support government-led scientific research, particularly in fields critical to public health, national defense, and environmental protection. State-funded institutions are not bound by immediate profit margins, allowing scientists to pursue foundational, long-term research that may not yield immediate financial returns. For instance, space exploration, basic medical research, and climate change studies require massive capital investment and carry high risks, which private companies typically avoid. When the government controls research, the primary objective is societal advancement and safety rather than commercial gain.
On the other hand, relying solely on state control can lead to bureaucratic delays, underfunding, and a lack of competitive drive. Private companies bring efficiency, agility, and massive capital injection into research and development. Pharmaceutical innovation, technological gadgets, and renewable energy advancements have historically accelerated when commercial entities compete in a free market. Profit incentives drive companies to transform raw scientific discoveries into accessible consumer products rapidly, benefiting the public through technological progress and economic growth.
In conclusion, neither the government nor private companies alone should hold total control over scientific research. A balanced approach—where the government spearheads ethical oversight and foundational public-interest studies, while private enterprises drive applied technology and commercialization—is the most effective way to advance science responsibly.
(Cuộc tranh luận về việc liệu nghiên cứu khoa học nên do chính phủ hay các tập đoàn tư nhân chủ yếu tài trợ và kiểm soát vẫn là một đề tài đang tiếp diễn. Trong khi sự giám sát của nhà nước đảm bảo rằng các nỗ lực khoa học ưu tiên phúc lợi công cộng và nhu cầu xã hội dài hạn, tôi tin rằng sự tham gia của khu vực tư nhân cũng quan trọng không kém trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhanh chóng và thương mại hóa các đột phá. Do đó, một mô hình hợp tác nơi cả hai bên cùng chia sẻ trách nhiệm sẽ ưu việt hơn so với việc nhà nước độc quyền hoàn toàn. Một mặt, có những lập luận mạnh mẽ ủng hộ nghiên cứu khoa học do chính phủ lãnh đạo, đặc biệt là trong các lĩnh vực quan trọng đối với y tế công cộng, quốc phòng và bảo vệ môi trường. Các tổ chức được nhà nước tài trợ không bị ràng buộc bởi lợi nhuận tức thời, cho phép các nhà khoa học theo đuổi các nghiên cứu nền tảng, dài hạn mà có thể không mang lại lợi nhuận tài chính ngay lập tức. Ví dụ, khám phá không gian, nghiên cứu y học cơ bản và các nghiên cứu về biến đổi khí hậu đòi hỏi nguồn vốn đầu tư khổng lồ và mang rủi ro cao, điều mà các công ty tư nhân thường tránh né. Khi chính phủ kiểm soát nghiên cứu, mục tiêu chính là sự tiến bộ và an toàn của xã hội thay vì lợi ích thương mại. Mặt khác, việc chỉ dựa vào sự kiểm soát của nhà nước có thể dẫn đến sự chậm trễ do quan liêu, thiếu hụt kinh phí và thiếu động lực cạnh tranh. Các công ty tư nhân mang lại hiệu quả, sự linh hoạt và nguồn vốn đầu tư khổng lồ vào nghiên cứu và phát triển. Sự đổi mới trong ngành dược phẩm, các thiết bị công nghệ và những tiến bộ về năng lượng tái tạo từ lâu đã được đẩy nhanh khi các thực thể thương mại cạnh tranh trong thị trường tự do. Động lực lợi nhuận thúc đẩy các công ty chuyển đổi các khám phá khoa học thô thành các sản phẩm tiêu dùng dễ tiếp cận một cách nhanh chóng, mang lại lợi ích cho công chúng thông qua tiến bộ công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Tóm lại, không thể để chính phủ hoặc các công ty tư nhân đơn độc nắm giữ toàn quyền kiểm soát nghiên cứu khoa học. Một cách tiếp cận cân bằng—nơi chính phủ đi đầu trong việc giám sát đạo đức và các nghiên cứu vì lợi ích công cộng nền tảng, trong khi các doanh nghiệp tư nhân thúc đẩy công nghệ ứng dụng và thương mại hóa—là cách hiệu quả nhất để thúc đẩy khoa học một cách có trách nhiệm.)
Gợi ý 2:
Many argue that scientific research is too crucial to be left in the hands of private enterprises and should therefore be strictly regulated and controlled by governments. While I agree that governmental oversight is vital for maintaining ethical standards and funding public goods, I completely disagree that private companies should be excluded. In fact, a dynamic partnership between both sectors yields the most progressive scientific outcomes.
Critics of private-sector-led research often point out that corporate agendas are driven by profit rather than public well-being. This can lead to the neglect of unprofitable fields, such as treatments for rare diseases, or the suppression of findings that contradict commercial interests. Governments, by contrast, act as guardians of the public interest, capable of funding long-term, high-risk projects like basic physics or epidemiology without expecting immediate commercial returns. State control ensures that scientific advancement serves humanity equitably.
However, completely sidelining private companies would severely handicap scientific progress. Private corporations possess unmatched operational efficiency, agility, and access to capital that enable laboratories to scale innovations from concept to market rapidly. The swift development of modern vaccines and breakthrough communication technologies demonstrates how commercial incentives motivate rapid problem-solving. Furthermore, competition in the private sector fosters creativity and pushes technological boundaries in ways that rigid government bodies often struggle to replicate.
In conclusion, limiting scientific research exclusively to government control is regressive and impractical. Progress thrives when state supervision provides ethical boundaries and funding for public-interest research, while private enterprises supply the innovation and market efficiency needed to bring discoveries to life.
(Nhiều người cho rằng nghiên cứu khoa học quá quan trọng để phó mặc cho các doanh nghiệp tư nhân và do đó cần phải được chính phủ quản lý và kiểm soát chặt chẽ. Mặc dù tôi đồng ý rằng sự giám sát của chính phủ là tối quan trọng để duy trì các tiêu chuẩn đạo đức và tài trợ cho hàng hóa công cộng, tôi hoàn toàn không đồng tình với việc các công ty tư nhân nên bị loại trừ. Trên thực tế, một mối quan hệ đối tác năng động giữa cả hai khu vực sẽ mang lại những kết quả khoa học tiến bộ nhất. Những người chỉ trích nghiên cứu do khu vực tư nhân dẫn dắt thường chỉ ra rằng các mục tiêu của doanh nghiệp được thúc đẩy bởi lợi nhuận hơn là phúc lợi công cộng. Điều này có thể dẫn đến việc phớt lờ các lĩnh vực không sinh lời, chẳng hạn như các phương pháp điều trị các bệnh hiếm gặp, hoặc che giấu các phát hiện mâu thuẫn với lợi ích thương mại. Ngược lại, các chính phủ đóng vai trò là những người bảo vệ lợi ích công cộng, có khả năng tài trợ cho các dự án dài hạn, có rủi ro cao như vật lý cơ bản hoặc dịch tễ học mà không kỳ vọng lợi nhuận thương mại ngay lập tức. Sự kiểm soát của nhà nước đảm bảo rằng sự tiến bộ khoa học phục vụ nhân loại một cách công bằng. Tuy nhiên, việc gạt bỏ hoàn toàn các công ty tư nhân sẽ làm suy giảm nghiêm trọng tiến bộ khoa học. Các tập đoàn tư nhân sở hữu hiệu quả hoạt động, sự linh hoạt và khả năng tiếp cận vốn chưa từng có, cho phép các phòng thí nghiệm mở rộng quy mô đổi mới từ ý tưởng ra thị trường một cách nhanh chóng. Sự phát triển nhanh chóng của các loại vắc-xin hiện đại và công nghệ truyền thông đột phá chứng minh cách các động lực thương mại thúc đẩy việc giải quyết vấn đề nhanh chóng. Hơn nữa, sự cạnh tranh trong khu vực tư nhân thúc đẩy sự sáng tạo và đẩy lùi các giới hạn công nghệ theo những cách mà các cơ quan chính phủ cứng nhắc thường gặp khó khăn trong việc tái tạo. Tóm lại, việc hạn chế nghiên cứu khoa học hoàn toàn dưới sự kiểm soát của chính phủ là thụt lùi và thiếu thực tế. Sự tiến bộ phát triển mạnh mẽ khi sự giám sát của nhà nước cung cấp các ranh giới đạo đức và nguồn vốn cho nghiên cứu vì lợi ích công cộng, trong các doanh nghiệp tư nhân cung cấp sự đổi mới và hiệu quả thị trường cần thiết để biến các khám phá thành hiện thực.)
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.
Lời giải
Bạn cần đăng ký gói VIP ( giá chỉ từ 250K ) để làm bài, xem đáp án và lời giải chi tiết không giới hạn.


