- Hình thức: Tự luận
1. Đọc - hiểu: 5.0 điểm (Văn bản 3.5 đ; tiếng Việt 1.5 đ)
- Văn bản thuộc thể loại thơ song thất lục bát (Chọn ngữ liệu ngoài SGK)
- Tiếng Việt: Câu rút gọn, câu đặc biệt, sự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ gây nhầm lẫn.
+ Thể loại.
+ Tìm văn bản cùng thể loại, cùng chủ điểm, cùng đề tài, cùng chủ đề.
+ Nhận diện đặc điểm thi luật của thơ thất ngôn bát cú và tứ tuyệt luật Đường như: bố cục, niêm luật,vần, nhịp, đối. nhận biết được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
+ Nhận diện Câu rút gọn, câu đặc biệt, sự khác biệt về nghĩa của một số yếu tố Hán Việt dễ gây nhầm lẫn.
2. Vận dụng: 1.0 điểm
- Cho ví dụ Câu rút gọn, câu đặc biệt ( học sinh tự tạo ngữ cảnh ).
3. Vận dụng cao: 5.0 điểm
Viết bài nghị luận về mộ vấn đề cần giải quyết.
B. NỘI DUNG ÔN TẬP
I. PHẦN VĂN BẢN
Thơ song thất lục bát là thể thơ gồm cặp song thất (bảy tiếng) và cặp lục bát (sáu - tám tiếng) luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.
2. Đặc điểm thi luật
Vần: Tiếng cuối của dòng thất đầu tiên hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất tiếp theo (vần trắc). Tiếng cuối của dòng thất tiếp theo hiệp vần với tiếng cuối của dòng lục (vần bằng).
Tiếng cuối của dòng lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của dòng bát (vần bằng). Tiếng cuối của dòng bát hiệp vần với tiếng thứ năm của dòng thất kế đó (vần bằng) và cứ thế tiếp tục.
Nhịp: Hai dòng thất đưọc ngắt nhịp lẻ, thường là 3/4; dòng lục và dòng bát ngắt nhịp linh hoạt hơn (dòng lục thưòng ngắt nhịp 2/2/2, dòng bát thường ngắt nhịp 2/2/2/2).
3. Sự khác biệt của thơ song thất lục bát so với thơ lục bát
...........................................................................................
II. PHẦN TIẾNG VIỆT
1)Câu rút gọn
2) Câu đặc biệt
3) Một số yếu tố Hán Việt dễ nhầm lẫn và cách phân biệt
III. TẬP LÀM VĂN: Viết bài văn nghị luận về một vấn đè cần giải quyết.
IV. ĐỀ THAM KHẢO
ĐỀ SỐ 1
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi:
Buổi tiễn đưa
( TRÍCH: CHINH PHỤ NGÂM KHÚC – DỊCH GIẢ: ĐOÀN THỊ ĐIỂM )
Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa.
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng.
Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng.
...........................................................................................